Tổng quan:
Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong quý I/2026 đạt mức kỷ lục, tuy nhiên vẫn bộc lộ một số vấn đề mang tính cấu trúc đáng lưu ý.
Theo Cục Thống kê, tổng kim ngạch XNK quý I ước đạt khoảng 249,5 tỷ USD, tăng mạnh khoảng 23% so với cùng kỳ 2025. Trong đó, XK đạt gần 123 tỷ USD, tăng 19,1%, trong khi NK đạt khoảng 126,6 tỷ USD, tăng tới 27%. Do đó, cán cân thương mại đảo chiều từ trạng thái xuất siêu cùng kỳ năm trước sang nhập siêu khoảng 3,6 tỷ USD trong quý I/2026.
Về XK, tăng trưởng XK vẫn được dẫn dắt bởi khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo, với tỷ trọng chiếm tới khoảng 90% tổng kim ngạch. Các nhóm hàng chủ lực như điện tử, máy tính, linh kiện, điện thoại và máy móc thiết bị duy trì mức tăng trưởng hai chữ số. Ở chiều ngược lại, NK tăng trưởng nhanh hơn XK nên dẫn đến tình trạng nhập siêu. Tuy nhiên, Bộ Công thương cho rằng, điều này chưa đáng lo ngại do cơ cấu NK chủ yếu là tư liệu SX, chiếm gần 94% tổng kim ngạch. DN đẩy mạnh NK máy móc, thiết bị và NVL phục vụ nhu cầu SX. Đồng thời, kết quả khảo sát PMI lĩnh vực SX Việt Nam tháng 3 của S&P Global cho thấy, trong ngắn hạn, nhu cầu tại các thị trường chủ lực như Mỹ, EU vẫn duy trì ổn định; XK sang Trung Quốc phục hồi tích cực. Bên cạnh đó, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động do xung đột ở Trung Đông, Ukraine, các DN cũng chủ động tăng dự trữ đầu vào để phòng ngừa rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng và biến động giá năng lượng. Đơn cử, ảnh hưởng của cuộc xung đột ở Trung Đông buộc các DN phải đẩy mạnh NK xăng dầu để đáp ứng nhu cầu trong nước. Trong 3 tháng đầu năm, NK xăng dầu đạt 2,9 tỷ USD, tăng 44,5% về lượng và 77,8% về giá trị so với cùng kỳ 2025. Như vậy, nhập siêu trong giai đoạn này mang tính chất ngắn hạn, gắn với chu kỳ SX và yếu tố giá, chưa hẳn là dấu hiệu bất thường, tiêu cực.
Xét theo thị trường, một số thị trường XK tăng trưởng tích cực như Hồng Kông tăng 47,4%, Trung Quốc tăng 26,4%, Hoa Kỳ tăng 24,3%. Đây là tín hiệu cho thấy DN chủ động hơn trong việc tận dụng cơ hội thị trường và khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do. Trong khi đó, Việt Nam duy trì nhập siêu lớn từ Trung Quốc, Hàn Quốc và khu vực ASEAN, chủ yếu do phụ thuộc vào nguồn cung NVL và linh kiện phục vụ SX.
Đáng chú ý, hoạt động XNK phân hóa rõ rệt giữa DN trong nước và DN ĐTNN. Trong khi tăng trưởng XNK của DN ĐTNN đạt mức khá cao: XK tăng 33,7% y/y và NK tăng 45,3% y/y, thì hoạt động XNK của các DN trong nước vẫn suy giảm kể: XK giảm 15,9% y/y và NK giảm 4,3% y/y. Sự khác biệt là do các DN ĐTNN tập trung đẩy mạnh XNK ở sản phẩm chủ đạo là máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (trước đây cũng thuộc diện miễn thuế đối ứng của TT Mỹ Trump) vào nhiều thị trường như Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc và Hong Kong. Trong khi đó, sản phẩm điện tử và máy móc, phụ tùng lại là sản phẩm giảm mạnh nhất trong danh mục hàng XK của các DN trong nước. Cấu trúc này phản ánh vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, chủ yếu đóng vai trò là trung tâm gia công, lắp ráp với giá trị gia tăng trong nước còn hạn chế. Ngoài ra, XK các sản phẩm chủ lực của DN trong nước là nông, lâm, thủy sản tăng chậm lại, một số mặt hàng còn tăng trưởng âm như cà phê, gạo.
Kết quả hoạt động XNK quý I/2026 cho thấy một bức tranh ngoại thương tăng trưởng cao về quy mô nhưng đặt ra nhiều thách thức về chất lượng và tính bền vững. Nếu không sớm khắc phục tình trạng suy giảm vai trò của khu vực kinh tế trong nước và xu hướng nhập siêu, phụ thuộc vào NVL NK, những rủi ro đối với thương mại quốc tế và toàn bộ nền kinh tế sẽ ngày càng rõ nét trong các quý tiếp theo.
Sang quý II/2026, bối cảnh thị trường quốc tế được dự báo sẽ phức tạp hơn, kéo theo những thách thức mới đối với hoạt động XNK. Một trong những yếu tố đáng lưu ý là sự thay đổi trong tâm lý tiêu dùng toàn cầu. Dù căng thẳng tại Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, nhưng tác động của lạm phát và giá cả tăng cao vẫn khiến người tiêu dùng có xu hướng thắt chặt chi tiêu. Điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu NK hàng hóa. Bên cạnh đó, rủi ro về nguồn cung nguyên liệu, đặc biệt là dầu mỏ, cũng là vấn đề cần theo dõi. Đây là đầu vào quan trọng của nhiều ngành SX. Nếu nguồn cung bị gián đoạn, chi phí SX sẽ tăng lên, kéo theo những tác động dây chuyền đến XK. Ngoài ra, chi phí logistics đang có xu hướng gia tăng trở lại sau một thời gian ổn định, khiến áp lực chi phí càng trở nên rõ rệt, nhất là với những ngành có biên lợi nhuận thấp. Tuy nhiên, có thông tin tích cực là vừa qua, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã ban hành phán quyết liên quan đến chính sách thuế, trong đó bác bỏ một số nội dung về việc áp dụng mức thuế trước đó. Trên cơ sở phán quyết này, Hoa Kỳ đã ngay lập tức vận dụng Điều khoản 122 để áp dụng mức thuế chung 10% đối với tất cả các quốc gia. Nếu trước đây một số mặt hàng chịu mức thuế khoảng 20%, thì hiện nay mức thuế được điều chỉnh xuống còn 10%. Đây là một yếu tố thuận lợi đối với DN VN và hàng hóa XK của VN sang thị trường lớn nhất là Hoa Kỳ.
Để góp phần thực hiện mục tiêu đã đề ra cho năm 2026 là tăng trưởng GDP 2 con số, tăng trưởng XK 15-16% so với năm 2025, xuất siêu trên 20 tỷ USD, theo Bộ Công Thương, từ quý II trở đi, CCTM bình quân cần xuất siêu trên 8 tỷ USD mỗi quý. Vì vậy, các chuyên gia khuyến nghị, các DN cần phải đa dạng hóa thị trường XK, tận dụng 17 FTA đã ký, mở rộng sang các khu vực tiềm năng như Nam Á, châu Phi, Mỹ Latinh hay Đông Âu…; nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, chủ động được nguồn nguyên liệu, giảm phụ thuộc vào NK, đáp ứng tốt hơn các quy định về xuất xứ, giúp các ngành hàng hưởng ưu đãi thuế quan tốt hơn trong các FTA hiện hành, …
Tóm lược thị trường trong nước từ 13/04 - 17/04/2026
Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 13/04 - 17/04, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh tăng – giảm nhẹ qua các phiên. Chốt ngày 17/04, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.102 VND/USD, giảm nhẹ 03 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. NHNN niêm yết tỷ giá mua giao ngay ở mức 23.897 VND/USD, cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn; tỷ giá bán giao ngay được niêm yết mức ở mức 26.307 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần.
Tỷ giá LNH trong tuần từ 13/04 - 17/04 biến động tăng – giảm nhẹ. Kết thúc phiên 17/04, tỷ giá LNH đóng cửa tại 26.334 VND/USD, giảm nhẹ 02 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.
Tỷ giá trên thị trường tự do biến động theo xu hướng giảm. Chốt phiên 17/04, tỷ giá tự do giảm 133 đồng ở chiều mua vào và 143 đồng ở chiều bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 26.573 VND/USD và 26.703 VND/USD.
Thị trường tiền tệ LNH: Tuần từ 13/04 - 17/04, lãi suất VND LNH diễn biến theo xu hướng giảm ở tất cả các kỳ hạn. Kết thúc ngày 17/04, lãi suất VND LNH giao dịch ở mức: ON 4,00% (-2,00 đpt); 1W 5,00% (-1,50 đpt); 2W 6,50% (-0,35 đpt); 1M 7,00% (-0,50 đpt).
Lãi suất USD LNH biến động tăng – giảm nhẹ qua các phiên, chốt phiên cuối tuần 17/04 giao dịch ở mức: ON 3,64% (-0,02 đpt); 1W 3,71% (+0,01 đpt); 2W 3,75% (không thay đổi) và 1M 3,79% (-0,01 đpt).
Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần qua từ 13/04 - 17/04, ở kênh cầm cố, NHNN chào thầu 59.000 tỷ đồng với các kỳ hạn 07 ngày, 35 ngày và 56 ngày, lãi suất duy trì ở mức 4,5%. Có 57.781,96 tỷ đồng trúng thầu. Có 129.345,45 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.
NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN trong tuần từ 13/04 - 17/04.
Như vậy, tuần qua, NHNN hút ròng 71.563,49 tỷ đồng từ thị trường qua kênh thị trường mở. Có 217.003,04 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.
Thị trường trái phiếu: Phiên 15/04, KBNN đấu thầu thành công 9.280 tỷ đồng/13.500 tỷ đồng TPCP gọi thầu, tỷ lệ trúng thầu đạt 69%. Trong đó, kỳ hạn 5Y huy động được 180 tỷ đồng/1.000 tỷ đồng gọi thầu và kỳ hạn 10Y huy động được 9.100 tỷ đồng/11.000 tỷ đồng gọi thầu. Các kỳ hạn 15Y và 30Y gọi thầu lần lượt 1.000 tỷ đồng và 500 tỷ đồng, tuy nhiên, không có khối lượng trúng thầu ở cả 2 kỳ hạn. Lãi suất trúng thầu ở kỳ hạn 5Y là 3,8% (+0,10 đpt so với lần đấu thầu trước), kỳ hạn 10Y là 4,14% (+0,01 đpt).
Ngày 22/04, KBNN dự kiến chào thầu 17.500 tỷ đồng TPCP, trong đó kỳ hạn 5Y chào thầu 1.000 tỷ đồng, kỳ hạn 10Y chào thầu 15.000 tỷ đồng, kỳ hạn 15Y chào thầu 1.000 tỷ đồng và kỳ hạn 20Y chào thầu 500 tỷ đồng.
Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp trong tuần đạt trung bình 18.445 tỷ đồng/phiên, tăng so với mức 15.325 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP trong tuần dao động nhẹ ở hầu hết các kỳ hạn. Chốt phiên 17/04, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1Y 3,22% (+0,004 đpt so với phiên cuối tuần trước đó); 2Y 3,31% (+0,01 đpt); 3Y 3,40% (không đổi); 5Y 4,07% (-0,01 đpt); 7Y 4,13% (-0,003 đpt); 10Y 4,23% (-0,01 đpt); 15Y 4,33% (+0,005 đpt); 30Y 4,46% (-0,003 đpt).
Thị trường chứng khoán: Tuần từ 13/04 - 17/04, thị trường chứng khoán diễn biến tích cực, các chỉ số tăng ở hầu hết các phiên. Kết thúc phiên 17/04, VN-Index đứng ở mức 1.817,17 điểm, tăng 67,17 điểm (+3,84%) so với phiên cuối tuần trước đó; HNX-Index thêm 8,09 điểm (+3,21%) lên mức 260,00 điểm; UPCom-Index tăng 0,99 điểm (+0,78%) đạt 128,37 điểm.
Thanh khoản thị trường trung bình đạt hơn 22.200 tỷ đồng/phiên, tăng nhẹ từ mức 21.800 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Khối ngoại tiếp tục bán ròng hơn 720 tỷ đồng trên cả 3 sàn.
Tin quốc tế
IMF hạ nhẹ triển vọng dự báo kinh tế thế giới 2026. Trong báo cáo vừa công bố ngày 14/04, IMF dự báo kinh tế thế giới năm 2026 tăng 3,1% (-0,2 đpt so dự báo tháng 10/2025), do ảnh hưởng từ cuộc chiến tại Trung Đông (kịch bản này được xây dựng dựa trên các giả định trước khi đàm phán Mỹ và Iran diễn ra vào cuối tuần trước). Nhóm các nước phát triển được dự báo tăng trưởng 1,8% (không đổi), trong đó GDP của Mỹ tăng 2,3% (-0,1 đpt), Euro Area tăng 1,1% (-0,2 đpt), Nhật Bản tăng 0,7% (không đổi) và Anh tăng 0,8% (-0,5 đpt). Các nước đang phát triển được IMF dự báo chỉ tăng trưởng 3,9% trong năm nay (-0,3 đpt). Trong nhóm này, Trung Quốc tăng trưởng 4,4% (-0,1 đpt), Ấn Độ tăng 6,5% (+0,1 đpt), ASEAN 5 (gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, và Thái Lan) tăng 3,7% (-0,5 đpt). Riêng tại Trung Đông và Trung Á, IMF hạ dự báo tăng trưởng năm 2026 xuống còn 1,9% (-2,0 đpt). Chỉ báo lạm phát chung toàn cầu được dự báo tăng 4,4% trong năm 2026 (+0,6 đpt). IMF cảnh báo thị trường tài chính đã hấp thụ cú sốc ban đầu từ chiến sự Iran một cách khá “trật tự”, và các nhà đầu tư có thể đang chủ quan, quá kỳ vọng vào một kết cục tích cực của xung đột mà quên rằng khủng hoảng thực sự có thể diễn ra nếu cú sốc bị kéo dài. Liên quan đến chiến sự tại Iran, trong tuần qua, eo biển Hormuz rơi vào trạng thái hỗn loạn khi Mỹ và Iran liên tục đưa ra các tuyên bố trái chiều. Ngày 17/04, cả Mỹ và Iran cùng thông báo eo biển Hormuz sẽ được mở cửa hoàn toàn trở lại. Giá dầu thô thế giới giảm 10%, phản ánh bước hạ nhiệt đáng kể trong xung đột Mỹ - Iran. Tuy nhiên chỉ vài giờ sau đó, phía Iran tái khẳng định eo biển này sẽ không được mở nếu các chiến dịch phong tỏa vẫn diễn ra. Tổng thống Mỹ Donald Trump cũng đưa tin lệnh phong tỏa của Mỹ với các cảng Iran vẫn còn hiệu lực "ở mức tối đa" cho đến khi thỏa thuận giữa Mỹ với Iran "hoàn thành 100%". Nhiều tàu thuyền lưu thông qua eo biển Hormuz trong những ngày qua đã hứng chịu các đợt tấn công của Mỹ và Iran, khiến giá dầu lại tăng trở lại mức cũ.
Kinh tế Mỹ đón một số chỉ báo quan trọng. Văn phòng Thống kê Mỹ cho biết chỉ số giá sản xuất PPI toàn phần và PPI lõi tại nước này lần lượt tăng 0,5% và 0,1% m/m trong tháng 3 sau khi tăng 0,5% và 0,3% ở tháng trước đó, thấp hơn khá nhiều so với dự báo tăng 1,1% và 0,4%. So với cùng kỳ năm 2025, PPI toàn phần và PPI lõi lần lượt tăng 4,0% và 3,6% y/y trong tháng 3, cùng mở rộng so với 3,4% và 3,5% ở tháng 2. Về thị trường lao động, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại Mỹ tuần kết thúc ngày 12/04 ở mức 207 nghìn đơn, giảm xuống từ 218 nghìn đơn của tuần trước đó và thấp hơn mức 213 nghìn đơn theo dự báo. Số đơn bình quân 4 tuần gần nhất là 209,75 nghìn, tăng nhẹ 0,5 nghìn so với 4 tuần liền trước.
Kinh tế Anh tương đối tích cực trong tháng 2. Văn phòng Thống kê Quốc gia Anh ONS cho biết GDP nước này tăng 0,5% m/m trong tháng 2, nối tiếp đà tăng 0,1% của tháng trước đó, đồng thời cao hơn nhiều so với mức dự báo tăng 0,1% của thị trường. Trong tháng 2, sản lượng xây dựng tăng 1,0% m/m, nối tiếp đà tăng 0,5% của tháng đầu năm, trái với dự báo giảm 0,4%. Sản lượng công nghiệp cũng cho thấy mức tăng 0,5% m/m sau khi tăng 0,3% ở tháng 1, cao hơn mức tăng 0,3% theo dự báo. Trong tuần này, nước Anh chờ đợi các tin tức quan trọng về thị trường lao động và chỉ báo lạm phát CPI trong tháng 3, lần lượt được công bố vào ngày 21 và ngày 22/04.
Tổng hợp Kinh tế - Tài chính tuần 13/04 - 17/04/2026