Tổng quan:
Tăng trưởng GDP Việt Nam quý I/2026 tuy vẫn ở mức tích cực nhưng chưa đạt kỳ vọng, gây áp lực lên mục tiêu tăng trưởng cả năm.
Theo báo cáo từ Cục Thống kê, Quý I/2026 ghi nhận mức tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt khoảng 7,83% so với cùng kỳ năm 2025, tiếp tục duy trì vị thế là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh trong khu vực. Mức tăng này được cho là tích cực trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục bất ổn và nhiều rủi ro gia tăng. So với cùng kỳ năm 2025 (~7,05%), mức tăng này cho thấy sự cải thiện của nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu đặt trong tương quan với quý IV/2025 (8,46%) và mục tiêu điều hành cao hơn (khoảng 8–9% và hướng tới hai chữ số), tăng trưởng quý I có thể được đánh giá là vẫn tích cực nhưng chưa đạt kỳ vọng.
Theo nhận định của các chuyên gia, nền kinh tế vẫn duy trì động lực tăng trưởng ở những lĩnh vực chủ đạo. Xuất khẩu trong quý I tăng mạnh khoảng 19%, tiếp tục đóng vai trò là một trong những động lực tăng trưởng chính. Cùng với đó, tiêu dùng nội địa giữ được sự ổn định với tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng khoảng 10,9%, cho thấy cầu nội địa không suy yếu. Dòng vốn FDI cũng duy trì xu hướng tích cực với giải ngân tăng khoảng 9% và vốn đăng ký tăng mạnh tới gần 43%, củng cố triển vọng tăng trưởng trung hạn.
Tuy nhiên, yếu tố chính khiến GDP không bứt tốc trong quý này nằm ở cú sốc chi phí đầu vào. Tính đến cuối tháng 3, giá năng lượng đã tăng mạnh, với giá xăng tăng khoảng 38% và dầu diesel tăng tới 145% so với đầu năm, đã làm gia tăng đáng kể chi phí sản xuất của DN. Điều này không chỉ làm thu hẹp biên lợi nhuận mà còn tạo áp lực lan tỏa lên mặt bằng giá chung. Thực tế, lạm phát trong tháng 3 đã tăng lên mức khá cao 4,65% so với cùng kỳ 2025, cho thấy rủi ro lạm phát gia tăng, làm hạn chế dư địa nới lỏng CSTT. Bên cạnh đó, CCTM đảo chiều nhập siêu khoảng 3,6 tỷ USD sau 3 tháng, phản ánh sự gia tăng NK đầu vào phục vụ SX. Đây là tín hiệu hai mặt: một mặt cho thấy hoạt động SX đang phục hồi, nhưng mặt khác cũng cho thấy mức độ phụ thuộc vào NVL NK vẫn rất lớn. Trong bối cảnh giá năng lượng toàn cầu biến động do các yếu tố địa chính trị, đặc biệt là căng thẳng tại Trung Đông, nền kinh tế Việt Nam trở nên nhạy cảm hơn với các cú sốc bên ngoài. Trong khi đó, khu vực tư nhân chưa kịp hấp thụ vốn hiệu quả và nhiều dự án đầu tư công trọng điểm vẫn còn đang ở giai đoạn khởi động, chưa tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ lên giá trị gia tăng toàn nền kinh tế.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong năm 2026, dựa vào kết quả tăng trưởng quý I, Cục Thống kê cho rằng, nền kinh tế phải rất nỗ lực trong các quý sau với mức tăng trưởng trên 10,5% hàng quý, cụ thể mức tăng trưởng quý II phải đạt 10,5%; quý III là 10,6% và quý IV là 10,74%. Với kịch bản này, Cục Thống kê kỳ vọng tăng trưởng GDP những tháng cuối năm sẽ dựa trên sự tăng tốc của xuất khẩu, sự phục hồi của tiêu dùng nội địa, cùng với đóng góp ngày càng rõ nét của các lĩnh vực kinh tế mới như công nghệ số, công nghệ bán dẫn và kinh tế xanh; đồng thời cần tháo gỡ triệt để các rào cản pháp lý, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và khơi thông hiệu quả dòng vốn đầu tư tư nhân. Ngoài ra, tình hình chính trị thế giới thuận lợi và giá năng lượng ổn định trở lại cũng là điều kiện cần để đảm bảo tăng trưởng kinh tế. Cục Thống kê nhận định, mục tiêu tăng trưởng hai con số cho cả năm 2026 là đầy thách thức, nhưng nếu các động lực tăng trưởng được kích hoạt mạnh mẽ và đồng bộ trong các quý còn lại, Việt Nam vẫn có cơ sở để bám sát mục tiêu tăng trưởng đã đề ra. Vì vậy, về mặt chính sách, trong khi áp lực lạm phát khá cao, hạn chế dư địa nới lỏng CSTT, chính sách sẽ buộc phải nghiêng nhiều về phía tài khóa với việc đẩy mạnh giải ngân ĐTC, hỗ trợ chi phí cho DN (đặc biệt là thông qua thuế, phí liên quan đến năng lượng), trong khi CSTT duy trì trạng thái thận trọng, giữ ổn định mặt bằng lãi suất.
Tại phiên họp Quốc hội ngày 10/04, Thủ tướng Chính phủ khẳng định, nhiệm kỳ này Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số. Chính phủ yêu cầu các cấp, ngành phải thống nhất về nhận thức, tư duy và hành động. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng để phấn đấu đạt được mục tiêu. Người đứng đầu Chính phủ khẳng định tăng trưởng phải đi kèm ổn định và kiểm soát các cân đối lớn của nền kinh tế (cung cầu hàng hóa, tài chính ngân sách, tiền tệ, thanh toán quốc tế, ...). Việt Nam không chấp nhận tăng trưởng nóng, cao mà đánh đổi sự bất ổn vĩ mô vì cái giá phải trả trong trung và dài hạn cho nền kinh tế sẽ rất lớn.
Tóm lược thị trường trong nước từ 06/04 - 10/04/2026
Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 06/04 - 10/04, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh tăng – giảm đan xen qua các phiên. Chốt ngày 10/04, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.105 VND/USD, giảm nhẹ 02 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. NHNN niêm yết tỷ giá mua giao ngay ở mức 23.900 VND/USD, cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn; tỷ giá bán giao ngay được niêm yết mức ở mức 26.310 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần.
Tỷ giá LNH trong tuần từ 06/04 - 10/04 biến động nhẹ. Kết thúc phiên 10/04, tỷ giá LNH đóng cửa tại 26.336 VND/USD, giảm nhẹ 03 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.
Tỷ giá trên thị trường tự do biến động tăng – giảm khá mạnh. Chốt phiên 10/04, tỷ giá tự do giảm 141 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 26.706 VND/USD và 26.846 VND/USD.
Thị trường tiền tệ LNH: Tuần từ 06/04 - 10/04, lãi suất VND LNH tăng – giảm mạnh qua các phiên ở tất cả các kỳ hạn. Kết thúc ngày 10/04, lãi suất VND LNH giao dịch ở mức: ON 6,00% (+0,50 đpt); 1W 6,50% (+0,50 đpt); 2W 6,85% (-0,05 đpt); 1M 7,50% (-0,30 đpt).
Lãi suất USD LNH biến động tăng – giảm nhẹ qua các phiên, chốt phiên cuối tuần 10/04 giao dịch ở mức: ON 3,66% (+0,03 đpt); 1W 3,70% (+0,01 đpt); 2W 3,75% (+0,03 đpt) và 1M 3,80% (+0,05 đpt).
Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần qua từ 06/04 - 10/04, ở kênh cầm cố, NHNN chào thầu 77.000 tỷ đồng với các kỳ hạn 14 ngày, 35 ngày và 56 ngày, lãi suất duy trì ở mức 4,5%. Có 70.369,25 tỷ đồng trúng thầu. Có 136.627,30 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.
NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN trong tuần từ 06/04 - 10/04.
Như vậy, tuần qua, NHNN hút ròng 66.258,05 tỷ đồng từ thị trường qua kênh thị trường mở. Có 288.566,53 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.
Thị trường trái phiếu: Phiên 08/04, KBNN đấu thầu thành công 3.000 tỷ đồng/13.500 tỷ đồng TPCP gọi thầu, tỷ lệ trúng thầu chỉ đạt 22%. Trong đó, chỉ có duy nhất kỳ hạn 10Y trúng thầu với lãi suất trúng thầu là 4,13% (+0,01 đpt so với phiên đấu thầu trước). Các kỳ hạn còn lại 5Y, 15Y và 20Y gọi thầu lần lượt 1.000 tỷ đồng, 1.000 tỷ đồng và 500 tỷ đồng, tuy nhiên, không có khối lượng trúng thầu ở cả 3 kỳ hạn.
Ngày 15/04, KBNN dự kiến chào thầu 13.500 tỷ đồng TPCP, trong đó kỳ hạn 5Y chào thầu 1.000 tỷ đồng, kỳ hạn 10Y chào thầu 11.000 tỷ đồng, kỳ hạn 15Y chào thầu 1.000 tỷ đồng và kỳ hạn 30Y chào thầu 500 tỷ đồng.
Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp trong tuần đạt trung bình 15.325 tỷ đồng/phiên, giảm mạnh so với mức 20.168 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP trong tuần biến động tăng nhẹ ở hầu hết các kỳ hạn ngoại trừ không thay đổi ở kỳ hạn từ 30Y. Chốt phiên 10/04, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1Y 3,21% (+0,01 đpt so với phiên cuối tuần trước đó); 2Y 3,31% (+0,01 đpt); 3Y 3,40% (+0,01 đpt); 5Y 4,08% (+0,01 đpt); 7Y 4,13% (+0,006 đpt); 10Y 4,23% (+0,01 đpt); 15Y 4,32% (+0,02 đpt); 30Y 4,47% (không đổi).
Thị trường chứng khoán: Tuần từ 06/04 - 10/04, thị trường chứng khoán tăng điểm chủ yếu nhờ phiên nhận thông tin FTSE Russell chính thức xác nhận lộ trình nâng hạng TTCK VN lên nhóm Thị trường Mới nổi Thứ cấp (Secondary Emerging Market) vào tháng 9/2026. Kết thúc phiên 10/04, VN-Index đứng ở mức 1.750,00 điểm, tăng 65,96 điểm (+3,92%) so với phiên cuối tuần trước đó; HNX-Index thêm 3,23 điểm (+1,30%) lên mức 251,91 điểm; UPCom-Index tăng 0,85 điểm (+0,67%) đạt 127,38 điểm.
Thanh khoản thị trường trung bình đạt hơn 21.800 tỷ đồng/phiên, giảm nhẹ từ mức 22.200 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Khối ngoại tiếp tục bán ròng hơn 930 tỷ đồng trên cả 3 sàn.
Tin quốc tế
Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Fed công bố biên bản cuộc họp tháng 3. Trong biên bản cuộc họp tháng 3 công bố ngày 08/04, Fed cho rằng triển vọng kinh tế Mỹ không có nhiều thay đổi, ngoại trừ việc tăng dự báo lạm phát ngắn hạn được thực hiện trong những ngày đầu của xung đột tại Iran. Các thành viên của Fed cho rằng lạm phát năm 2026 sẽ cao hơn một chút do giá năng lượng tăng, tuy nhiên sẽ giảm trở lại và về gần mức 2% vào cuối năm sau khi tác động của thuế quan và giá dầu giảm dần. Mặc dù vậy, nhìn chung lạm phát vẫn đang cao hơn so với mức mục tiêu 2% của cơ quan này. Về lao động, tỷ lệ thất nghiệp ổn định nhưng việc làm tăng chậm. Nhiều ý kiến cho rằng thị trường lao động đang cân bằng, nhưng cũng có một số dấu hiệu suy yếu cần được chú ý như cơ hội việc làm suy giảm, doanh nghiệp thận trọng trong tuyển dụng. Fed cho rằng các yếu tố bất định vẫn rất lớn như Trung Đông, thuế quan, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, đều đang khiến rủi ro tăng trưởng việc làm nghiêng về phía tiêu cực, trong khi rủi ro lạm phát tăng lên. Ở cuộc họp này, hầu hết các thành viên cho rằng Fed đang có vị thế CSTT phù hợp để quan sát thêm đối với các yếu tố trên. Theo đó, Fed quyết định không điều chỉnh LSCS ở 3,50% - 3,75% với đồng thuận của 11/12 thành viên Ủy ban Thị trường Mở Liên bang FOMC, bao gồm Chủ tịch Fed Jerome Powell. Duy nhất 1 thành viên là Stephen I. Miran ủng hộ cắt giảm LSCS 25 đcb.
Kinh tế Mỹ đón một số chỉ báo quan trọng. Đầu tiên, Văn phòng Thống kê Mỹ công bố GDP nước này chính thức tăng 0,5% q/q trong Q4/2025, điều chỉnh xuống thấp hơn so với mức tăng 0,7% theo báo cáo sơ bộ, giảm tốc khá mạnh từ mức 4,4% ở Q3 và 3,8% ở Q2. Như vậy, GDP nước Mỹ tăng trưởng khoảng 2,1% trong cả năm 2025, giảm tốc so với mức tăng 2,8% của năm 2024. Về lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng cá nhân PCE lõi tại Mỹ tăng 0,4% m/m trong tháng 2, bằng với mức tăng của tháng 1 và cũng khớp dự báo của các chuyên gia. So với cùng kỳ năm 2025, PCE lõi tăng khoảng 3,0% y/y, thấp hơn so với mức 3,1% ở tháng 1. PCE toàn phần trong tháng 2 lần lượt tăng 0,4% m/m và 2,8% y/y. Chỉ số CPI của Mỹ trong tháng 3 tăng khoảng 0,9% m/m, cao hơn nhiều so với mức tăng 0,3% của tháng trước đó và gần khớp với dự báo tăng 1,0%. So cùng kỳ, CPI tăng 3,3% y/y, mở rộng nhiều từ mức 2,4% của tháng 2. Nguyên nhân chính đến từ giá năng lượng vọt lên và duy trì trong suốt tháng vừa qua do căng thẳng tại Trung Đông kéo dài. Cuối cùng, về thị trường lao động, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại Mỹ tuần kết thúc ngày 04/02 ở mức 219 nghìn đơn, tăng lên từ 203 nghìn đơn của tuần trước đó và vượt qua mức 210 nghìn đơn theo dự báo. Số đơn bình quân 4 tuần gần nhất là 209,5 nghìn đơn, tăng nhẹ 1,5 nghìn so với 4 tuần liền trước.
Tổng hợp Kinh tế - Tài chính tuần 06/04 - 10/04/2026