Tổng hợp Kinh tế - Tài chính tuần 19/01 - 23/01/2026

07:44 26/01/2026

Tổng quan:

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 01/NĐ-CP ngày 08/01/2026 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN năm 2026.

Theo đó, Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP cả nước năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn, với 5 quan điểm chỉ đạo xuyên suốt, nhấn mạnh đổi mới tư duy phát triển, siết chặt kỷ luật, hoàn thiện thể chế, phát huy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Trong Nghị quyết, Chính phủ nêu 12 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Trong đó, có tập trung hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật; đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; tiếp tục ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn, nợ công, bội chi NSNN trong giới hạn quy định; ứng phó kịp thời, hiệu quả với các biến động kinh tế, thương mại thế giới; thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống (đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu), khai thác mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới; tiếp tục hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy hành chính; tăng cường phân cấp, phân quyền, đề cao trách nhiệm người đứng đầu; chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo; đặt nâng cao năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo vào trung tâm của chiến lược phát triển. Chính phủ cũng tập trung đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng chiến lược hiện đại, đồng bộ, tạo nền tảng cho năng lực cạnh tranh quốc gia, nhất là các công trình giao thông trọng điểm, đường sắt, sân bay quốc tế, cảng biển, năng lượng.

Trong Nghị quyết, Chính phủ cũng đặt ra các chỉ tiêu chủ yếu trong Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 như sau: (1) tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước GDP phấn đấu 10% trở lên; (2) GDP bình quan đầu người đặt 5.400-5.500 USD; (3) tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP khoảng 24,96% ; (3) tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng CPI bình quân khoảng 4,5%. Cụ thể hơn, kịch bản tăng trưởng các ngành kinh tế như sau: Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,7%, Công nghiệp và xây dựng tăng 12% (trong đó công nghiệp tăng 11,4%, xây dựng tăng 14,5%); Dịch vụ tăng 10,0%. Một số chỉ tiêu cụ thể cho các ngành, lĩnh vực như sau: Tỷ lệ nợ xấu nội bảng (không bao gồm các NHTM yếu kém): dưới 3%; tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ xấu đã bán cho VAMC chưa được xử lý, thu hồi và nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu (không bao gồm các NHTM yếu kém) dưới 5%; tỷ trọng chi đầu tư phát triển/tổng chi NSNN 35,5%; tỷ trọng chi thường xuyên/tổng chi NSNN 57,3%; tổng vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP khoảng 35%; tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu khoảng 15-16%; tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP phấn đấu 14,5% GDP; …

Ngay sau đó, Thống đốc NHNN ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 09/01/2026 về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2026. Thống đốc NHNN yêu cầu các đơn vị thuộc NHNN và các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện tốt các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng năm 2026 nhằm góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững, bảo đảm ổn định và an toàn hệ thống. Theo đó, NHNN điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2026 bình quân khoảng 4,5%, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững; điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững, đảm bảo an toàn hoạt động của các TCTD. Dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, có điều chỉnh (tăng hoặc giảm) phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Năm 2026, NHNN chú trọng đổi mới công tác giám sát an toàn vi mô và vĩ mô, nâng cao năng lực phát hiện, phân tích và cảnh báo sớm nhằm kịp thời đề xuất các biện pháp phòng ngừa rủi ro và ngăn chặn nguy cơ khủng hoảng, ảnh hưởng đến sự an toàn, ổn định của hệ thống ngân hàng; tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp để kiểm soát và xử lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng, duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức an toàn, đồng thời tăng cường quản trị rủi ro và hạn chế phát sinh mới nợ xấu, góp phần bảo đảm an toàn và ổn định hoạt động hệ thống các TCTD.      

Tóm lược thị trường trong nước từ 19/01 - 23/01/2026

Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 19/01 - 23/01, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh tăng – giảm nhẹ qua các phiên. Chốt ngày 23/01, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.125 VND/USD, giảm 06 đồng so với phiên cuối tuần trước. NHNN niêm yết tỷ giá mua giao ngay ở mức 23.919 VND/USD, cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn; tỷ giá bán giao ngay được niêm yết mức ở mức 26.331 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần.

Tỷ giá LNH trong tuần từ 19/01 - 23/01 biến động tăng – giảm nhẹ đan xen. Kết thúc phiên 23/01, tỷ giá LNH đóng cửa tại 26.271 VND/USD, giảm nhẹ 05 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua tăng mạnh trở lại. Chốt phiên 23/01, tỷ giá tự do tăng mạnh 400 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 26.650 VND/USD và 26.700 VND/USD.

Thị trường tiền tệ LNH: Tuần từ 19/01 - 23/01, lãi suất VND LNH tăng mạnh qua hầu hết các phiên ở tất cả các kỳ hạn từ 1M trở xuống. Kết thúc ngày 23/01, lãi suất VND LNH giao dịch ở mức: ON 4,80% (+0,80 đpt); 1W 5,20% (+0,60 đpt); 2W 5,65% (+0,15 đpt); 1M 6,80% (+0,25 đpt).

Lãi suất USD LNH biến động tăng – giảm nhẹ qua các phiên. Chốt phiên 23/01, lãi suất USD LNH giao dịch tại: ON 3,61% (-0,04 đpt); 1W 3,68% (-0,02 đpt); 2W 3,73% (-0,01 đpt) và 1M 3,77% (-0,07 đpt).

Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần qua từ 19/01 - 23/01, ở kênh cầm cố, NHNN chào thầu 19.000 tỷ đồng với các kỳ hạn 7 ngày và 56 ngày, lãi suất duy trì ở mức 4,5%. Có 17.590,79 tỷ đồng trúng thầu. Có 58.116,34 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN trong tuần qua. 

Như vậy, tuần qua, NHNN hút ròng 40.525,55 tỷ đồng từ thị trường qua kênh thị trường mở. Có 274.522,94 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.

Thị trường trái phiếu: Phiên 21/01, KBNN đấu thầu thành công 14.621 tỷ đồng/21.500 tỷ đồng TPCP gọi thầu, tương đương tỷ lệ trúng thầu đạt 68%. Trong đó, kỳ hạn 5Y trúng thầu 500 tỷ đồng/1.000 tỷ đồng gọi thầu, kỳ hạn 10Y trúng thầu 13.621 tỷ đồng/18.000 tỷ đồng gọi thầu và kỳ hạn 15Y trúng thầu 500 tỷ đồng/1.000 tỷ đồng gọi thầu. Kỳ hạn 7Y, 20Y và 30Y gọi thầu 500 tỷ đồng mỗi kỳ hạn, tuy nhiên, không có khối lượng trúng thầu ở cả 3 kỳ hạn. Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 5Y là 3,30% (+0,10 đpt so với phiên đấu thầu trước), 10Y là 4,02% (+0,02 đpt), 15Y là 4,12% (+0,02 đpt).

Ngày 28/01, KBNN dự kiến chào thầu 14.500 tỷ đồng TPCP, trong đó kỳ hạn 5Y chào thầu 1.000 tỷ đồng, kỳ hạn 10Y chào thầu 12.000 tỷ đồng, kỳ hạn 15Y chào thầu 1.000 tỷ đồng và kỳ hạn 30Y chào thầu 1.000 tỷ đồng.

Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 17.982 tỷ đồng/phiên, tăng so với mức 15.127 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP trong tuần qua biến động phân hóa giữa các kỳ hạn. Chốt phiên 16/01, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1Y 3% (-0,05 đpt so với phiên cuối tuần trước đó); 2Y 3,10% (-0,01 đpt); 3Y 3,15% (+0,002 đpt); 5Y 3,60% (+0,06 đpt); 7Y 3,68% (+0,05 đpt); 10Y 4,14% (-0,01 đpt); 15Y 4,25% (+0,01 đpt); 30Y 4,35% (+0,04 đpt).

Thị trường chứng khoán: Lợi suất TPCP trong tuần qua biến động phân hóa giữa các kỳ hạn. Chốt phiên 23/01, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1Y 2,98% (-0,02 đpt so với phiên cuối tuần trước đó); 2Y 3,11% (+0,01 đpt); 3Y 3,16% (+0,01 đpt); 5Y 3,61% (+0,01 đpt); 7Y 3,71% (+0,03 đpt); 10Y 4,06% (-0,08 đpt); 15Y 4,18% (-0,06 đpt); 30Y 4,34% (-0,01 đpt).

Tin quốc tế

Nước Mỹ đón một số chỉ báo kinh tế quan trọng. Đầu tiên, Văn phòng Phân tích Kinh tế Mỹ công bố GDP nước này chính thức tăng 4,4% q/q trong Q3/2025, cao hơn mức 4,3% theo khảo sát sơ bộ và đồng thời cao hơn mức tăng 3,8% ở quý trước đó. Đây là mức tăng trưởng theo quý lớn nhất kể từ Q2/2023. Tiếp theo, tại thị trường lao động, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tuần kết thúc ngày 17/01 ở mức 200 nghìn đơn, tăng nhẹ từ 199 nghìn đơn của tuần trước đó nhưng thấp hơn mức 209 nghìn đơn theo dự báo. Số đơn bình quân 4 tuần gần nhất là 201,5 nghìn, giảm 3,75 nghìn so với 4 tuần liền trước. Về lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng cá nhân PCE lõi tại Mỹ tăng 0,2% m/m trong tháng 11, bằng với mức tăng của tháng 10 và đồng thời khớp với dự báo. PCE toàn phần trong tháng 11 cũng tăng 0,3% m/m, nối tiếp đà tăng 0,1% của tháng 10. So với cùng kỳ năm 2024, PCE lõi và PCE toàn phần tháng 11 cùng tăng 2,7% y/y, đều thu hẹp nhẹ so với ghi nhận cùng tăng 2,8% ở tháng trước đó. Tại thị trường bất động sản, doanh số nhà chờ bán tại nước Mỹ trong tháng 12 giảm mạnh 9,3% m/m sau khi tăng 3,3% ở tháng trước đó, sâu hơn rất nhiều so với mức giảm 0,3% theo dự báo của các chuyên gia. Cuối cùng, Đại học Michigan cho biết chỉ số niềm tin tiêu dùng tại nước Mỹ chính thức đạt 56,4 điểm trong tháng 1, điều chỉnh tăng so với mức 54 điểm theo khảo sát sơ bộ, đồng thời cũng tăng so với mức 52,9 điểm của tháng 12/2025. Trong tuần này, thị trường chờ đợi kết quả cuộc họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Fed ngày 29/01. Theo dự báo của CME, có tới 98% khả năng Fed sẽ giữ LSCS không đổi (trong khoảng 3,50% - 3,75%) ở cuộc họp này, và chỉ có 2% khả năng cắt giảm LSCS 25 đcb. Theo kịch bản chiếm ưu thế, Fed có thể cắt giảm LS 2 lần trong năm nay vào tháng 6 và tháng 12, đưa LS cuối năm về khoảng 3,0% - 3,25%.

Nước Anh cũng ghi nhân các thông tin kinh tế đáng chú ý. Đầu tiên, về lạm phát, Văn phòng Thống kê Quốc gia Anh ONS cho biết chỉ số giá tiêu dùng CPI toàn phần tại nước này tăng 3,4% y/y trong tháng 12, cao hơn mức 3,2% của tháng trước đó và đồng thời cao hơn mức 3,3% theo dự báo. CPI lõi trong tháng vừa qua tăng 3,2% y/y, bằng với mức tăng của tháng 11 và thấp hơn so với dự báo tăng 3,3%. Về thị trường lao động, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp tại nước Anh tăng thêm 17,9 nghìn trong tháng 12/2025 sau khi giảm 3,3 nghìn ở tháng trước đó, cao hơn mức 15,6 nghìn theo dự báo. Bên cạnh đó, tỷ lệ thất nghiệp tại Anh trong tháng vừa qua ghi nhận ở mức 5,1%, không thay đổi so với kết quả thống kê tháng 11 và cũng khớp với dự báo. Thu nhập bình quân tại nước Anh tăng 4,7% 3m/y trong 3 tháng 10-11-12, thấp hơn mức tăng 4,8% của 3 tháng 09-10-11, song vẫn tích cực hơn mức tăng 4,6% theo kỳ vọng của thị trường. Tiếp theo, doanh số bán lẻ tại nước Anh trong tháng 12/2025 tăng 0,4% m/m sau khi giảm 0,1% ở tháng trước đó, trái với dự báo đi ngang (0,0% m/m) của thị trường. So với cùng kỳ năm ngoái, doanh số bán lẻ tại Anh tăng khoảng 2,5% y/y. Cuối cùng, S&P Global khảo sát cho biết chỉ số PMI lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực dịch vụ tại Anh lần lượt đạt 51,6 và 54,3 điểm trong tháng 1, cùng tăng so với 50,6 và 51,4 điểm của tháng 12/2025, đồng thời cùng cao hơn mức 50,6 và 51,7 theo dự báo.

Tổng hợp Kinh tế - Tài chính tuần 19/01 - 23/01/2026

Đọc thêm