Tổng quan:
Báo cáo công bố ngày 06/03 của Cục Thống kê cho thấy, tình hình kinh tế – xã hội hai tháng đầu năm 2026 nhìn chung tiếp tục xu hướng tích cực, tuy vẫn có những chỉ số kinh tế kém lạc quan. Cụ thể:
Thứ nhất, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm. Chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 02/2026 tăng 1,14% so với tháng trước; tăng 1,19% so với tháng 12/2025 và tăng 3,35% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân hai tháng đầu năm 2026, CPI tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 3,47%.
Thứ hai, cả ba khu vực kinh tế đều phát triển tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP 2 tháng đầu năm tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 7,5%), trong đó, ngành chế biến chế tạo đóng góp chính, tăng 11,5%, đóng góp 8,9 đpt trong mức tăng chung; sản xuất nông nghiệp ổn định. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 9,3%), nếu loại trừ yếu tố giá, còn tăng 4,5% (thấp hơn mức tăng 6,8% cùng kỳ năm 2025). Du lịch phục hồi với khoảng 4,7 triệu lượt khách quốc tế, tăng 18,1%; chỉ số PMI ngành sáng xuất tháng 2 đạt 54,3 điểm, tuy giảm so với tháng 1, nhưng vẫn phản ánh xu hướng mở rộng sản xuất kinh doanh tháng thứ tám liên tiếp.
Thứ ba, thu ngân sách nhà nước đạt kết quả khả quan. Hai tháng đầu năm, thu NSNN ước đạt 601,3 nghìn tỷ đồng, bằng 23,8% dự toán năm và tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước, trong bối cảnh đã thực hiện giảm, gia hạn khoảng 30,2 nghìn tỷ đồng tiền thuế, phí, lệ phí để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Tổng chi NSNN lũy kế hai tháng đầu năm 2026 ước đạt 311,0 nghìn tỷ đồng, bằng 9,8% dự toán năm và tăng 11,0% so với cùng kỳ năm trước. Thặng dư NSNN hai tháng đầu năm là trên 290 nghìn tỷ đồng.
Thứ tư, hoạt động xuất nhập khẩu tăng trưởng tích cực. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch XNK hàng hóa đạt 155,7 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 18,3%; nhập khẩu tăng 26,3%. Tuy nhiên, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 2,98 tỷ USD trở lại sau khi xuất siêu 1,47 tỷ USD cùng kỳ 2025. Cụ thể, 2 tháng đầu năm 2026, kim ngạch XK hàng hóa đạt 76,36 tỷ USD, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 15,96 tỷ USD, giảm 12,0%, chiếm 20,9% tổng kim ngạch XK; khu vực có vốn ĐTNN (kể cả dầu thô) đạt 60,4 tỷ USD, tăng 30,1%, chiếm 79,1%. Ở chiều ngược lại, tính chung 2 tháng đầu năm 2026, kim ngạch NK hàng hóa đạt 79,34 tỷ USD, tăng 26,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 22,47 tỷ USD, giảm 1,5%; khu vực có vốn ĐTNN đạt 56,87 tỷ USD, tăng 42,2%. Cục Thống kê cho biết, 94,1% lượng hàng NK 2 tháng đầu năm thuộc nhóm hàng tư liệu sản xuất, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 56,0%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 38,1%.
Thứ năm, đầu tư phát triển tiếp tục đạt kết quả tích cực. Giải ngân đầu tư công từ đầu năm đến ngày 28/02/2026 là 55.739,8 tỷ đồng, đạt 5,6% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (995.348,05 tỷ đồng); trong đó: vốn NSTW là 10.178 tỷ đồng, đạt 2,9%; vốn NSĐP là 45.561,8 tỷ đồng, đạt 7%. So với cùng kỳ năm 2025, kết quả giải ngân tương đương về tỷ lệ và cao về số tuyệt đối là 10.928,6 tỷ đồng. Tổng vốn ĐTNN đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 28/02/2026, bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà ĐTNN, đạt 6,03 tỷ USD, tuy giảm 12,6% so với cùng kỳ năm trước, nhưng vốn ĐTNN đăng ký mới tăng tới 61,5%. Vốn ĐTTTNN thực hiện tại Việt Nam hai tháng đầu năm 2026 ước đạt 3,21 tỷ USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước.
Thứ sáu, số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường tăng cao. Trong hai tháng đầu năm, cả nước có gần 64,5 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 29,4% so với cùng kỳ năm trước; bình quân một tháng có 32,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường lên tới 77,0 nghìn doanh nghiệp, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước; bình quân một tháng có 38,5 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, cho thấy nhiều doanh nghiệp gặp áp lực lớn để duy trì hoạt động. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong hai tháng năm 2026 là gần 851,9 nghìn tỷ đồng, tăng 20,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Tóm lược thị trường trong nước từ 02/03 - 06/03/2026
Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 02/03 - 06/03, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh theo xu hướng tăng nhẹ. Chốt ngày 06/03, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.057 VND/USD, tăng 13 đồng so với phiên cuối tuần trước. NHNN niêm yết tỷ giá mua giao ngay ở mức 23.855 VND/USD, cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn; tỷ giá bán giao ngay được niêm yết mức ở mức 26.259 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần.
Tỷ giá LNH trong tuần từ 02/03 - 06/03 tăng mạnh phiên đầu tuần rồi biến động tăng – giảm nhẹ sau đó. Kết thúc phiên 06/03, tỷ giá LNH đóng cửa tại 26.245 VND/USD, tăng mạnh 190 đồng so với phiên cuối tuần trước.
Tỷ giá trên thị trường tự do tiếp tục xu hướng tăng. Chốt phiên 06/03, tỷ giá tự do tăng 170 đồng ở chiều mua vào và 180 đồng ở chiều bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 26.850 VND/USD và 26.900 VND/USD.
Thị trường tiền tệ LNH: Tuần từ 02/03 - 06/03, lãi suất VND LNH tăng mạnh đầu tuần rồi giảm rất mạnh trở lại ở tất cả các kỳ hạn từ 1M trở xuống. Kết thúc ngày 06/03, lãi suất VND LNH giao dịch ở mức: ON 4,60% (-0,20 đpt); 1W 5,20% (-2,30 đpt); 2W 5,75% (-1,25 đpt); 1M 6,95% (-0,25 đpt).
Lãi suất USD LNH biến động tăng – giảm nhẹ qua các phiên. Chốt phiên 06/03, lãi suất USD LNH giao dịch tại: ON 3,61% (không thay đổi); 1W 3,69% (+0,02 đpt); 2W 3,73% (+0,02 đpt) và 1M 3,75% (không đổi).
Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần qua từ 02/03 - 06/03, ở kênh cầm cố, NHNN chào thầu 193.000 tỷ đồng với các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày, 21 ngày, 56 ngày và 63 ngày, lãi suất đều duy trì ở mức 4,5%. Có 170.276,66 tỷ đồng trúng thầu. Có 166.094,94 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.
NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN trong tuần từ 02/03 - 06/03.
Như vậy, tuần qua, NHNN bơm ròng 4.181,72 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở. Có 408.859,66 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.
Thị trường trái phiếu: Phiên 04/03, KBNN đấu thầu thành công 4.830 tỷ đồng/13.500 tỷ đồng TPCP gọi thầu, tương đương tỷ lệ trúng thầu chỉ đạt 36%. Trong đó, duy nhất kỳ hạn 10Y trúng thầu với lãi suất trúng thầu là 4,11% (+0,02 đpt so với phiên đấu thầu trước đó). Kỳ hạn 7Y, 15Y và 20Y gọi thầu lần lượt 1.000 tỷ đồng, 1.000 tỷ đồng và 500 tỷ đồng, tuy nhiên, không có khối lượng trúng thầu ở cả 3 kỳ hạn.
Ngày 11/03, KBNN dự kiến chào thầu 13.500 tỷ đồng TPCP, trong đó kỳ hạn 5Y chào thầu 1.000 tỷ đồng, kỳ hạn 10Y chào thầu 11.000 tỷ đồng, kỳ hạn 15Y chào thầu 1.000 tỷ đồng và kỳ hạn 20Y chào thầu 500 tỷ đồng.
Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp trong tuần đạt trung bình 17.112 tỷ đồng/phiên, tăng khá so với mức 13.635 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP trong tuần tăng khá mạnh, đặc biệt ở kỳ hạn 5Y, 10Y và 30Y. Chốt phiên 06/03, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1Y 3,06% (+0,02 đpt so với phiên cuối tuần trước lễ); 2Y 3,17% (+0,02 đpt); 3Y 3,23% (+0,02 đpt); 5Y 3,82% (+0,07 đpt); 7Y 3,85% (+0,03 đpt); 10Y 4,17% (+0,05 đpt); 15Y 4,23% (+0,02 đpt); 30Y 4,40% (+0,06 đpt).
Thị trường chứng khoán: Tuần từ 02/03 - 06/03, thị trường chứng khoán tiêu cực, các chỉ số giảm mạnh qua hầu hết các phiên. Kết thúc phiên 06/03, VN-Index đứng ở mức 1.767,84 điểm, giảm rất mạnh 112,49 điểm (-5,98%) so với phiên cuối tuần trước đó; HNX-Index mất 9,18 điểm (-3,49%) về mức 253,64 điểm; UPCom-Index lùi 2,46 điểm (-1,90%) còn 126,85 điểm.
Thanh khoản thị trường trung bình đạt khoảng gần 43.800 tỷ đồng/phiên, tăng mạnh từ mức 30.100 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Khối ngoại bán ròng mạnh hơn 2.500 tỷ đồng trên cả 3 sàn.
Tin quốc tế
Kinh tế Mỹ đón một số chỉ báo đáng chú ý. Đầu tiên, về thị trường lao động, nước Mỹ ghi nhận số việc làm phi nông nghiệp giảm 92 nghìn trong tháng 2 sau khi tăng 126 nghìn ở tháng 1, trái với kỳ vọng tiếp tục tăng 58 nghìn. Theo đó, tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ tăng lên mức 4,4% trong tháng vừa qua, trái với dự báo đi ngang ở mức 4,3%. Thu nhập bình quân theo giờ tại Mỹ tiếp tục tăng 0,4% m/m trong tháng 2, bằng với mức tăng của tháng 1 và tích cực hơn so với mức tăng 0,3% theo dự báo. Số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại Mỹ tuần kết thúc ngày 28/02 ở mức 213 nghìn đơn, không thay đổi so với tuần trước đó và trái với dự báo tăng nhẹ lên mức 215 nghìn đơn. Số đơn bình quân 4 tuần gần nhất là 215,75 nghìn, giảm 4,75 nghìn so với bình quân 4 tuần liền trước. Tiếp theo, về ngành bán lẻ, doanh số bán lẻ toàn phần tại Mỹ giảm 0,2% m/m trong tháng 2 sau khi đi ngang ở tháng 1 (0,0% m/m), gần khớp với mức giảm 0,3% theo dự báo. Doanh số bán lẻ lõi tháng 2 tiếp tục đi ngang, tương tự với kết quả trong tháng đầu năm, trái với dự báo tăng nhẹ 0,1%. So với cùng kỳ năm 2025, doanh số bán lẻ toàn phần và doanh số bán lẻ lõi lần lượt tăng 3,2% và 3,05% y/y. Tại lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, Viện Quản lý Cung ứng Mỹ ISM cho biết PMI của hai lĩnh vực này lần lượt đạt 52,4% và 56,1% trong tháng 2, cùng cao hơn so với 52,1% và 53,8% của tháng 1, đồng thời cùng cao hơn so với dự báo ở mức 51,7% và 53,5%. Đây là mức PMI dịch vụ cao nhất của nước Mỹ kể từ sau tháng 11/2022. Trong tuần này, thị trường chờ đợi các tin tức về GDP Mỹ Q4/2025, bên cạnh đó là các chỉ báo quan trọng liên quan đến lạm phát, bao gồm CPI và PCE lõi. Các chỉ báo này có thể ảnh hưởng nhiều đến kỳ vọng thị trường về đường đi LSCS của Fed trong tương lai. Hiện tại, công cụ dự báo của CME cho biết có 95% khả năng Fed sẽ giữ LSCS không đổi ở khoảng 3,50% - 3,75% trong cuộc họp ngày 17-18/03, và chỉ có 5% khả năng cắt giảm thêm 25 đcb. Kịch bản chiếm ưu thế cho thấy Fed có thể cắt giảm 2 lần vào tháng 6 và tháng 10 năm nay, tương đương với 50 đcb, đưa LSCS cuối năm 2026 về còn 3,0% - 3,25%.
Nước Úc cũng ghi nhận các chỉ báo quan trọng trong tuần vừa qua. Văn phòng Thống kê Úc cho biết GDP nước này tăng trưởng 0,8% q/q trong Q4/2025, nối tiếp đà tăng 0,5% của quý trước đó và vượt nhẹ mức tăng 0,7% theo dự báo. Như vậy, GDP Úc tăng khoảng 2,6% trong cả năm 2025, cao hơn khá nhiều so với mức tăng 1,3% ghi nhận năm 2024, và thậm chí vượt dự báo tăng trưởng 2,3% của NHTW Úc RBA vào cuối năm 2024. Động lực chính góp phần vào đà tăng chung là sức chi tiêu của các hộ gia đình trong năm vừa qua, ngoài ra cũng có những đóng góp nhất định từ việc Chính phủ Úc hỗ trợ hoàn các khoản phí tiền điện cho người dân. Tiếp theo, về lĩnh vực xây dựng, số cấp phép xây dựng tại nước này giảm 7,2% m/m trong tháng 1, nối tiếp đà giảm 14,9% của tháng trước đó và trái với dự báo tăng 5,4%. So với cùng kỳ năm 2025, lượng cấp phép trong tháng 1 giảm khá mạnh 15,7% y/y. Cuối cùng, cán cân vãng lai tại Úc trong Q4/2025 ghi nhận mức thâm hụt 21,1 tỷ AUD, sâu hơn so với mức thâm hụt 18,3 tỷ của quý trước đó, đồng thời sâu hơn khá nhiều so với mức thâm hụt 16,8 tỷ theo dự báo. Đây là quý thứ 8 liên tiếp cán cân vãng lai nước này cho thấy sự thâm hụt, và mức độ thâm hụt đang có xu hướng ngày một lớn dần.
Tổng hợp Kinh tế - Tài chính tuần 02/03 - 06/03/2026