Tổng quan:
Tình hình kinh tế tháng 1/2026 cho thấy bức tranh tích cực với nhiều số liệu, chỉ số tăng trưởng đạt cao. Trong đó, các điểm nổi bật là sản xuất công nghiệp tăng cao, số doanh nghiệp thành lập mới tăng gấp đôi so với tháng 1/2025, vốn đầu tư nước ngoài thực hiện cao nhất 5 năm trở lại đây, cán cân thương mại đảo chiều nhập siêu, khách quốc tế vào Việt Nam ở mức cao…
Về chỉ số giá tiêu dùng CPI, CPI tháng 1 tăng nhẹ 0,05% so với tháng trước chủ yếu do giá thịt lợn tăng do nhu cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ tăng cao, giá ăn uống ngoài gia đình, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng do nhu cầu sơn sửa nhà cửa đón năm mới của người dân tăng. CPI tháng 1 tăng 2,53% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tháng 01/2026 tăng 3,19%.
Về sản xuất công nghiệp, chỉ số sản xuất công nghiệp IIP tháng 1/2026 giảm 0,2% so với tháng trước và tăng 21,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 23,6%. Nguyên nhân chủ yếu do đơn hàng được cải thiện và số ngày làm việc trong tháng 1 năm nay nhiều hơn cùng kỳ. Trong đó, phải kể đến một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong tháng 01/2026 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: linh kiện điện thoại tăng 92,7%; xe máy tăng 54,3%; xi măng tăng 48,9%; ô tô tăng 48,5%; thép cán tăng 38,0%; thủy hải sản chế biến tăng 30,7%; sữa bột và sơn hóa học cùng tăng 29,1%.
Về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, tổng vốn ĐTNN đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 31/01 đạt 2,58 tỷ USD, giảm 40,6% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, vốn ĐTTTNN thực hiện ước đạt 1,68 tỷ USD, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn ĐTTTNN thực hiện cao nhất tháng 1 trong 5 năm qua. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 1,39 tỷ USD, chiếm 82,5% tổng vốn ĐTTTNN thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 110,2 triệu USD, chiếm 6,6%.
Về thương mại quốc tế, trong tháng 1, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 88,16 tỷ USD, giảm 0,6% so với tháng trước và tăng 39% so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 1,78 tỷ USD. Trong đó, kim ngạch XK đạt 43,19 tỷ USD, giảm 2% so với tháng trước, tăng 29,7% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực kinh tế trong nước XK đạt 9,51 tỷ USD, chiếm 22% tổng kim ngạch, giảm 1,3% so với cùng kỳ 2024; khu vực có vốn ĐTNN (kể cả dầu thô) đạt 33,68 tỷ USD, tăng 42,2%. Ở chiều ngược lại, kim ngạch NK tháng 1 đạt 44,97 tỷ USD, tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 49,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 12,91 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 32,06 tỷ USD. Về thị trường, Hoa Kỳ là thị trường XK lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 13,9 tỷ USD; Trung Quốc là thị trường NK lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 19,0 tỷ USD.
Về thương mại dịch vụ, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, du lịch nội địa cùng với lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng cao góp phần tích cực vào tăng trưởng của ngành thương mại dịch vụ trong tháng đầu tiên của năm. Cụ thể, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 1/2026 ước đạt 632,4 nghìn tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,3%. Về du lịch, các chính sách đột phá về thị thực, sự đổi mới trong công tác quảng bá, xúc tiến du lịch cùng với đẩy mạnh đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ đã thu hút đông đảo khách quốc tế đến Việt Nam. Trong tháng 1/2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt gần 2,5 triệu lượt người, tăng 21,4% so với tháng trước và tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách đến bằng đường hàng không đạt 2 triệu lượt người, chiếm 79,6% lượng khách quốc tế đến Việt Nam và tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước.
Tóm lược thị trường trong nước từ 02/02 - 06/02/2026
Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 02/02 - 06/02, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh giảm nhẹ qua hầu hết các phiên. Chốt ngày 06/02, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.065 VND/USD, giảm 09 đồng so với phiên cuối tuần trước. NHNN niêm yết tỷ giá mua giao ngay ở mức 23.862 VND/USD, cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn; tỷ giá bán giao ngay được niêm yết mức ở mức 26.268 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần.
Tỷ giá LNH trong tuần từ 02/02 - 06/02 tăng mạnh phiên đầu rồi giảm trở lại. Kết thúc phiên 06/02, tỷ giá LNH đóng cửa tại 25.960 VND/USD, tăng nhẹ 15 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.
Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua tăng mạnh. Chốt phiên 06/02, tỷ giá tự do tăng 800 đồng ở chiều mua vào và 820 đồng ở chiều bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 27.250 VND/USD và 27.320 VND/USD.
Thị trường tiền tệ LNH: Tuần từ 02/02 - 06/02, lãi suất VND LNH biến động tăng – giảm mạnh ở tất cả các kỳ hạn từ 1M trở xuống. Kết thúc ngày 06/02, lãi suất VND LNH giao dịch ở mức: ON 10,00% (+4,80 đpt); 1W 9,80% (+4,30 đpt); 2W 9,65% (+3,25 đpt); 1M 9,50% (+2,20 đpt).
Lãi suất USD LNH biến động tăng – giảm nhẹ qua các phiên. Chốt phiên 06/02, lãi suất USD LNH giao dịch tại: ON 3,60% (-0,03 đpt); 1W 3,66% (-0,01 đpt); 2W 3,71% (-0,01 đpt) và 1M 3,75% (không thay đổi).
Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần qua từ 02/02 - 06/02, ở kênh cầm cố, NHNN chào thầu 323.000 tỷ đồng với các kỳ hạn 7 ngày, 28 ngày và 56 ngày, lãi suất duy trì ở mức 4,5%. Có 229.790,33 tỷ đồng trúng thầu. Có 70.639,25 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.
NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN trong tuần qua.
Như vậy, tuần qua, NHNN bơm ròng 159.151,08 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở. Có 480.013,76 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.
Thị trường trái phiếu: Phiên 04/02, KBNN đấu thầu thành công 5.495 tỷ đồng/14.500 tỷ đồng TPCP gọi thầu, tương đương tỷ lệ trúng thầu đạt 38%. Trong đó, duy nhất kỳ hạn 10Y trúng thầu 5.495 tỷ đồng/12.000 tỷ đồng gọi thầu với lãi suất trúng thầu là 4,05% (+0,01 đpt so với phiên đấu thầu trước đó). Kỳ hạn 5Y, 15Y và 30Y gọi thầu lần lượt 1.000 tỷ đồng, 1.000 tỷ đồng và 500 tỷ đồng, tuy nhiên, không có khối lượng trúng thầu ở cả 3 kỳ hạn.
Ngày 11/02, KBNN dự kiến chào thầu 14.500 tỷ đồng TPCP, trong đó kỳ hạn 5Y chào thầu 1.000 tỷ đồng, kỳ hạn 10Y chào thầu 13.000 tỷ đồng, kỳ hạn 15Y chào thầu 1.000 tỷ đồng và kỳ hạn 30Y chào thầu 500 tỷ đồng.
Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 19.020 tỷ đồng/phiên, tăng so với mức 17.518 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP trong tuần qua tăng ở hầu hết các kỳ hạn. Chốt phiên 06/02, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1Y 3,0% (+0,01 đpt so với phiên cuối tuần trước đó); 2Y 3,13% (+0,01 đpt); 3Y 3,17% (+0,01 đpt); 5Y 3,67% (+0,06 đpt); 7Y 3,75% (+0,05 đpt); 10Y 4,09% (+0,03 đpt); 15Y 4,20% (+0,01 đpt); 30Y 4,34% (không đổi).
Thị trường chứng khoán: Tuần từ 02/02 - 06/02, VN-Index giảm mạnh ở hầu hết các phiên. Kết thúc phiên 06/02, VN-Index đứng ở mức 1.755,49 điểm, giảm tới 73,55 điểm (-4,02%) so với phiên cuối tuần trước đó; HNX-Index thêm 0,15 điểm (+0,06%) lên mức 256,28 điểm; UPCom-Index mất 3,55 điểm (-2,75%) còn 125,51 điểm.
Thanh khoản thị trường trung bình đạt khoảng gần 31.700 tỷ đồng/phiên, tăng tích cực từ mức 28.700 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Khối ngoại bán ròng mạnh hơn 4.900 tỷ đồng trên cả 3 sàn.
Tin quốc tế
Một số NHTW lớn trên thế giới có các quộc họp quan trọng trong tuần qua, quyết định về LSCS cũng có sự khác biệt. Đầu tiên, ngày 03/02, NHTW Úc RBA cho biết lạm phát tại nước này đã tăng trở lại trong những tháng cuối năm 2025, và thị tường lao động cũng đã ổn định trở lại sau những dấu hiệu nới lỏng trước đó. RBA quyết định tăng LSCS thêm 0,25 đcb lên mức 3,85% nhằm đạt được mục tiêu lạm phát ổn định ở mức 2% - 3%. Tiếp theo, ngày 05/02, NHTW Châu Âu ECB nhận định lạm phát tại khu vực Eurozone sẽ ổn định ở mức mục tiêu 2% trong trung hạn. Nền kinh tế vẫn có khả năng chống chịu trong bối cảnh nhiều thách thức từ địa chính trị và thuế quan. Tỷ lệ thất nghiệp hiện đang ở mức thấp và tương đối ổn định. Theo đó, Hội đồng Thống đốc của ECB quyết định không điều chỉnh các mức LSCS trong cuộc họp lần này. Cụ thể, LS tái cấp vốn, LS cho vay cận biên và LS tiền gửi tại ECB lần lượt được giữ đi ngang ở mức 2,15%; 2,40% và 2,0%. Cũng trong ngày 05/02, NHTW Anh BOE nhận định lạm phát đang cao hơn mục tiêu 2%, song sẽ giảm trở lại ngưỡng này kể từ tháng 4. Tăng trưởng kinh tế hiện đang trầm lắng, và tình trạng dư thừa lao động đang diễn ra. Tăng trưởng tiền lương cũng đang tiếp tục hạ nhiệt. LSCS tháng 2 được BOE giữ đi ngang ở mức 3,75% với 5/9 thành viên Hội đồng Thống đốc (MPC) bỏ phiếu thuận. 4 thành viên còn lại của MPC bỏ phiếu cắt giảm 25 đcb xuống 3,50%. Như vậy, trong 5 NHTW lớn thế giới (tính thêm Fed của Mỹ và BOJ của Nhật Bản), chỉ có Fed, ECB và BOE có khả năng cắt thêm LSCS, trong khi 2 NHTW còn lại đều phải giữ hoặc nâng LSCS nhằm đạt được lạm phát mục tiêu.
Kinh tế Mỹ đón một số chỉ báo đáng chú ý. Đầu tiên, Bộ Lao động Mỹ công bố số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tuần kết thúc ngày 31/01 ở mức 231 nghìn đơn, tăng lên từ 209 nghìn đơn của tuần trước đó và vượt qua mức 212 nghìn đơn theo dự báo. Số đơn bình quân 4 tuần gần nhất là 212,25 nghìn, tăng 6 nghìn so với bình quân 4 tuần liền trước. Tiếp theo, trong tháng 12/2025, thị trường lao động Mỹ đã tạo ra 6,54 triệu cơ hội việc làm mới, thấp hơn khá nhiều so với 6,93 triệu của tháng 11, đồng thời thấp hơn so với kỳ vọng đạt mức 7,25 triệu. Tiếp theo, Viện Quản lý Cung ứng Mỹ ISM cho biết chỉ số PMI lĩnh vực dịch vụ tại nước này ở mức 53,8% trong tháng 01/2026, giảm nhẹ từ mức 54,4% của tháng trước đó, tuy nhiên vẫn cao hơn 53,5% theo dự báo. Bên cạnh đó, PMI lĩnh vực sản xuất tại nước này đạt 52,6% trong tháng 01/2026, tăng khá mạnh từ mức 47,9% của tháng trước đó, đồng thời vượt qua mức 48,5% theo dự báo của thị trường. Đây là lần đầu tiên PMI sản xuất vượt trở lại ngưỡng trung tính 50% kể từ sau tháng 02/2025. Trong tuần này, thị trường chờ đợi báo cáo chi tiết về thị trường lao động Mỹ, được công bố vào tối ngày 11/02 theo giờ Việt Nam.
Tổng hợp Kinh tế - Tài chính tuần 02/02 - 06/02/2026