Tổng hợp Kinh tế - Tài chính tuần 20/07 - 24/07/2026

08:16 27/07/2026

Tổng quan:

 Việt Nam vẫn nằm trong Danh sách Giám sát các hoạt động ngoại hối của Bộ Tài chính Mỹ.

Ngày 23/07, Bộ Tài chính Mỹ công bố báo cáo về chính sách kinh tế vĩ mô và ngoại hối của các đối tác thương mại chính của Hoa Kỳ năm 2025. Trong báo cáo, Bộ Tài chính Mỹ cho biết, không có đối tác thương mại lớn nào của Mỹ thao túng tiền tệ để giành lợi thế thương mại không công bằng trong năm 2025, nhưng 10 đối tác thương mại hàng đầu vẫn nằm trong danh sách cần tăng cường giám sát các hoạt động ngoại hối của họ, trong đó có Việt Nam. Bộ Tài chính Mỹ chấm điểm 20 đối tác thương mại dựa trên số liệu của 4 quý liên tiếp gần nhất theo ba tiêu chí:

(i)         Thặng dư thương mại song phương với Mỹ vượt ngưỡng 5 tỷ USD.

(ii)         Thặng dư tài khoản vãng lai tương đương hơn 3% GDP.

(iii)        Mua ròng ngoại tệ liên tục, tương đương ít nhất 2% GDP 8 tháng trong khoảng thời gian 12 tháng.

Các quốc gia vi phạm từ 2 tiêu chí trở lên sẽ bị đưa vào danh sách giám sát trong ít nhất hai kỳ báo cáo liên tiếp.

Đối với trường hợp Việt Nam, về thương mại song phương, Bộ Tài chính Mỹ sử dụng số liệu của Văn phòng Thống kê Dân số Mỹ (US Census Bureau), không dùng số liệu của Cục Hải quan Việt Nam. Số liệu của Mỹ thường cao hơn do phía Mỹ tính theo giá CIF (gồm chi phí, bảo hiểm, vận tải), trong khi Việt Nam tính giá FOB (chỉ tính giá tại cửa khẩu xuất). Thực tế, Việt Nam luôn vượt rất sâu tiêu chí này (thường đạt từ 80 tỷ đến hơn 100 tỷ USD/năm) do Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam (với các mặt hàng chủ lực như dệt may, giày dép, điện tử, …).

Về tiêu chí thặng dư tài khoản vãng lai, số liệu GDP Việt Nam được tính dựa trên số liệu chính thức của Cục Thống kê Việt Nam, còn thặng dư tài khoản vãng lai được tổng hợp từ cán cân thanh toán đối ngoại (BOP) do NHNN công bố. Việt Nam thường xuyên ngấp nghé hoặc vượt ngưỡng này tùy thuộc vào chu kỳ xuất khẩu. Khi xuất khẩu hàng hóa tăng trưởng mạnh và lượng kiều hối dồi dào đổ về (đạt 12–19 tỷ USD/năm), dòng tiền vãng lai sẽ đẩy tỷ lệ này vượt mốc 3% GDP.

Về tiêu chí thứ 3, Mỹ dùng tiêu chí này để xác định xem một quốc gia có đang cố tình "dìm" giá đồng nội tệ nhằm hỗ trợ xuất khẩu hay không. Tại Việt Nam, Mỹ thu thập số liệu qua các báo cáo can thiệp của NHNN, biến động trong mục "Tài sản đối ngoại ròng" của hệ thống ngân hàng, và dữ liệu dự trữ ngoại hối từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Theo dữ liệu, Việt Nam các năm qua không vi phạm tiêu chí này. NHNN mua vào ngoại tệ để bổ sung dự trữ ngoại hối ở những thời điểm dòng vốn FDI chảy mạnh, sẵn sàng bán ra USD để can thiệp hạ nhiệt khi tỷ giá biến động căng thẳng. Việc điều hành này mang tính hai chiều, linh hoạt nhằm ổn định vĩ mô chứ không can thiệp một chiều liên tục.

Theo đánh giá của các chuyên gia, việc tiếp tục nằm trong Danh sách Giám sát ngoại hối của Bộ Tài chính Mỹ có những tác động cụ thể đến Việt Nam, đặc biệt tới hai lĩnh vực cốt lõi là CSTT/điều hành tỷ giá và hoạt động xuất nhập khẩu. Về điều hành CSTT, việc nằm trong danh sách giám sát của Mỹ sẽ làm gia tăng tính minh bạch khi Việt Nam cần thực hiện đúng các cam kết quốc tế và song phương với Mỹ, ví dụ việc NHNN cam kết bắt đầu công bố dữ liệu định kỳ về lượng mua ròng ngoại tệ từ năm 2027. Đồng thời, NHNN cần thận trọng khi phải can thiệp thị trường; hoạt động mua/bán USD chỉ được thực hiện nhằm mục đích điều tiết, giảm bớt sự biến động quá mức của tỷ giá, chứ không dùng để tạo lợi thế cạnh tranh thương mại bất bình đẳng. Khi công cụ can thiệp ngoại hối bị giám sát chặt, NHNN phải phụ thuộc nhiều hơn vào các công cụ gián tiếp (nghiệp vụ thị trường mở, phát hành tín phiếu, ..) để vừa ổn định giá trị đồng Việt Nam, vừa giữ chân dòng vốn ngoại.

Về xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam sang Mỹ, doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục đối mặt với sự kiểm tra gắt gao từ phía Mỹ về gian lận xuất xứ hoặc "trung chuyển bất hợp pháp" hàng hóa từ nước thứ ba (như Trung Quốc) - mượn nhãn mác Việt Nam để xuất sang Mỹ. Bên cạnh đó, để giảm bớt điểm nóng từ tiêu chí thặng dư thương mại song phương quá lớn với Mỹ, DN Việt Nam phải chủ động đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, đồng thời phải tăng cường nhập khẩu máy móc, công nghệ cao, năng lượng, … từ Mỹ.      

Tóm lược thị trường trong nước từ 20/07 - 24/07/2026

Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 20/07 - 24/07, tỷ giá trung tâm tiếp tục được NHNN điều chỉnh theo xu hướng tăng. Chốt ngày 24/07, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.283 VND/USD, tăng tiếp 29 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. NHNN niêm yết tỷ giá mua giao ngay ở mức 24.069 VND/USD, cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn; tỷ giá bán giao ngay được niêm yết ở mức 26.497 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần.

Tỷ giá LNH trong tuần từ 20/07 - 24/07 chủ yếu tăng nhẹ qua hầu hết các phiên. Kết thúc phiên 24/07, tỷ giá LNH đóng cửa tại 26.325 VND/USD, tăng 30 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Tỷ giá trên thị trường tự do giảm ở hầu hết các phiên. Chốt phiên 24/07, tỷ giá tự do giảm 140 đồng ở cả 2 chiều mua vào và và bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 26.289 VND/USD và 26.389 VND/USD.

Thị trường tiền tệ LNH: Tuần từ 20/07 - 24/07, lãi suất VND LNH biến động giảm ở các kỳ hạn ngắn trong khi tăng ở các kỳ hạn 2W và 1M. Chốt ngày 24/07, lãi suất VND LNH giao dịch ở mức: ON 2,50% (-1,40 đpt); 1W 3,35% (-1,30 đpt); 2W 5,60% (+0,20 đpt); 1M 7,30% (+0,30 đpt).

Lãi suất USD LNH tiếp tục dao động nhẹ, kết thúc phiên cuối tuần 24/07 giao dịch ở mức: ON 3,65% (-0,01 đpt); 1W 3,71 (+0,01 đpt); 2W 3,75% (không thay đổi) và 1M 3,80% (không thay đổi).

Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần qua từ 20/07 - 24/07, ở kênh cầm cố, NHNN chào thầu 19.000 tỷ đồng với các kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 63 ngày, lãi suất duy trì ở mức 4,5%. Kết quả có 13.943,89 tỷ đồng trúng thầu. Trong tuần có 40.296,60 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN trong tuần từ 20/07 - 24/07. 

Như vậy, tuần qua, NHNN hút ròng 26.352,71 tỷ đồng từ thị trường qua kênh thị trường mở. Có 160.207,42 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.

Thị trường trái phiếu: Phiên 22/07, KBNN đấu thầu thành công 6.124 tỷ đồng/13.000 tỷ đồng TPCP gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu đạt 47%). Trong đó, kỳ hạn 5Y trúng thầu 3.000 tỷ đồng/4.000 tỷ đồng gọi thầu, 10Y trúng thầu 3.024 tỷ đồng/7.000 tỷ đồng gọi thầu và 30Y trúng thầu 100 tỷ đồng/500 tỷ đồng gọi thầu. Kỳ hạn 3Y và 15Y gọi thầu lần lượt 500 tỷ đồng và 1.000 tỷ đồng, tuy nhiên, không có khối lượng trúng thầu ở cả hai kỳ hạn. Lãi suất trúng thầu không đổi so với phiên đấu thầu trước đó ở tất cả các kỳ hạn, cụ thể, 5Y là 4,18%, 10Y là 4,35% và 30Y là 4,59%.

Ngày 29/07, KBNN dự kiến chào thầu 13.000 tỷ đồng TPCP, trong đó kỳ hạn 3Y chào thầu 500 tỷ đồng, kỳ hạn 5Y chào thầu 4.000 tỷ đồng, kỳ hạn 10Y chào thầu 7.000 tỷ đồng, kỳ hạn 15Y chào thầu 1.000 tỷ đồng và kỳ hạn 30Y chào thầu 500 tỷ đồng.

Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 16.578 tỷ đồng/phiên, tăng so với mức bình quân 13.350 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP trong tuần qua biến động trái chiều giữa các kỳ hạn. Chốt phiên 24/07, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1Y là 3,47% (+0,05 đpt so với phiên cuối tuần trước đó); 2Y là 3,57% (+0,06 đpt); 3Y là 3,63% (+0,05 đpt); 5Y là 4,21% (+0,002 đpt); 7Y là 4,27% (+0,003 đpt); 10Y là 4,41% (không đổi); 15Y là 4,58% (-0,003 đpt); 30Y là 4,72% (không đổi).

Thị trường chứng khoán: Tuần từ 20/07 - 24/07, thị trường chứng khoán giảm điểm tuần thứ 3 liên tiếp. Kết thúc phiên 24/07, VN-Index đứng ở mức 1.686,11 điểm, rơi mạnh 101,34 điểm (-5,67%) so với phiên cuối tuần trước đó; HNX-Index mất 18,71 điểm (-6,41%) còn 272,99 điểm, UPCom-Index giảm 1,49 điểm (-1,17%) xuống 125,89 điểm.

Thanh khoản thị trường trung bình đạt trên 18.500 tỷ đồng/phiên, tăng nhẹ so với mức 16.500 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Khối ngoại bán ròng khoảng 900 tỷ đồng trên cả 3 sàn.

Tin quốc tế

Trong tuần vừa qua, Mỹ tuyên bố đánh thuế với hơn 60 đối tác thương mại. Ngày 23/07, chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố mức thuế 10% - 12,5% đối với hàng hóa nhập khẩu từ 60 quốc gia, có hiệu lực kể từ ngày 24/07, ngay sau khi mức thuế toàn cầu 10% hết hạn. Theo danh sách được công bố, Mỹ áp mức thuế bổ sung 10% đối với hàng hóa nhập khẩu từ 17 đối tác, gồm Argentina, Bangladesh, Vương quốc Anh, Campuchia, Canada, Ecuador, El Salvador, Guatemala, Honduras, Ấn Độ, Indonesia, Jordan, Malaysia, Mexico, Pakistan, Sri Lanka và Trinidad và Tobago. Đối với Liên minh EU, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Thụy Sỹ, Mỹ áp dụng cơ chế tính thuế riêng. Hàng hóa từ 38 đối tác còn lại sẽ chịu mức thuế bổ sung 12,5%. Washington cho biết các mức thuế mới sẽ bao phủ 99,4% kim ngạch nhập khẩu của Mỹ, và một số mặt hàng sẽ được miễn thuế, trong đó cố dầu khí, phân bón cùng một số loại thực phẩm. Hồi tháng 2, Tòa án Tối cao Mỹ đã bác bỏ thuế đối ứng từ 10% đến 50% mà Tổng thống Trump áp dụng từ năm ngoái dựa trên một đạo luật về tình trạng khẩn cấp quốc gia. Khác với các biện pháp trước đây, thuế quan mới được áp dụng theo Điều 301 của Đạo luật Thương mại 1974. Cơ sở pháp lý này cho phép chính quyền Trump duy trì một mức thuế tối thiểu đối với gần như toàn bộ hàng hóa, bất chấp phán quyết của Tòa án Tối cao. Thuế quan mới được cho là ít đối mặt với rủi ro pháp lý hơn so với thuế quan đã bị bác bỏ.

NHTW Châu Âu ECB không điều chỉnh LSCS trong cuộc họp tháng 7. Trong cuộc họp ngày 23/07, ECB cho biết mức độ bất ổn của thế giới vẫn đang ở mức cao, và có thể kéo theo hệ lụy là lạm phát và đồng thời là sự suy yếu của kinh tế. ECB cho rằng mức độ tác động của các cú sốc năng lượng vẫn còn chưa bộc lộ hết, và sẽ sớm có tác động vòng 2 đến giá cả hàng hóa cũng như triển vọng kinh tế toàn cầu. Theo đó, việc ổn định giá cả vẫn là ưu tiên hàng đầu để tránh bào mòn sức mua và tổn thương kéo dài cho nền kinh tế khu vực. Trong bối cảnh hiện tại, ECB quyết định giữ LS cho vay tái cấp vốn, LS cho vay cận biên và LS tiền gửi lần lượt ở mức 2,4%, 2,65% và 2,25%, cùng không điều chỉnh so với trước, nhằm đảm bảo quá trình kiểm soát lạm phát, đồng thời cũng không tạo áp lực lớn cho kinh tế. Trước đó, trong cuộc họp hồi tháng 6, cơ quan này đã có lần nâng LSCS trở lại đầu tiên trong năm, và dự báo CPI Eurozone sẽ ở mức 3% cuối 2026, trước khi hạ về 2,3% trong năm 2027 và 2% năm 2028. Liên quan đến chỉ báo kinh tế Eurozone, chỉ số PMI lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực dịch vụ tại khu vực này lần lượt đạt 52,0 và 51,6 điểm trong tháng 7, cùng tăng lên so với 51,4 và 45,4 điểm của tháng 6, đồng thời cùng cao hơn so với mức 51,5 và 49,8 điểm theo dự báo.

Nước Anh cũng ghi nhận các chỉ báo kinh tế quan trọng. Ở thị trường lao động, Văn phòng Thống kê Quốc gia Anh công bố nước này có thêm 6,7 nghìn đơn xin trợ cấp thất nghiệp trong tháng 6, cao hơn mức 1,3 nghìn của tháng 5 nhưng thấp hơn nhiều so với dự báo tăng 29,4 nghìn đơn. Tỷ lệ thất nghiệp trong tháng vừa qua giữ ở mức 4,9%, không có sự thay đổi so với thống kê tháng 5 và cũng khớp với dự báo của thị trường. Cuối cùng, thu nhập bình quân tại nước Anh tăng 4,3% 3m/y trong 3 tháng 04-05-06, thấp hơn một chút so với mức 4,4% của 3 tháng 03-04-05 và cũng thấp hơn mức 4,5% theo dự báo. Về lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng CPI lõi tại nước này tăng 2,6% y/y trong tháng 6, bằng với mức tăng của tháng trước đó và cao hơn một chút so với dự báo ở mức 2,5%. Mặc dù vậy, CPI toàn phần trong tháng vừa qua chỉ tăng 2,6% y/y, hạ nhiệt từ mức 2,8% của tháng 5 và thấp hơn mức tăng 2,7% theo dự báo. Cuối cùng, doanh số bán lẻ tại Anh tăng 1,0% m/m trong tháng 6, nối tiếp đà tăng 1,2% của tháng 5 và trái với dự báo giảm 0,3%. So với cùng kỳ, doanh số bán lẻ tăng 4,2% y/y.

Tổng hợp Kinh tế - Tài chính tuần 20/07 - 24/07/2026

Đọc thêm