Tổng quan:
Thực trạng xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam gần 6 tháng đầu năm 2026 đã phản ánh rõ nét tác động từ cuộc xung đột tại Trung Đông, bên cạnh là những vấn đề tồn tại cố hữu.
Theo Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, 5 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch XK đạt gần 215,7 tỷ USD, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước; NK đạt gần 229,5 tỷ USD, tăng 30,8%, cán cân thương mại nhập siêu khoảng 13,8 tỷ USD.
Đến hết ngày 15/06/2026, XK đạt 239,9 tỷ USD, tăng 21,1% so với cùng kỳ 2025; NK đạt 256,72 tỷ USD, tăng 33,1%, đưa mức nhập siêu lên khoảng 16,8 tỷ USD. Trong đó, phần lớn kim ngạch NK vẫn tập trung vào máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng cho tăng trưởng xuất khẩu trong các tháng cuối năm. Tổng kim ngạch XNK cả nước từ đầu năm đến hết kỳ 1 tháng 6 đạt gần 496,7 tỷ USD, tăng trên 25% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong đó, từ đầu năm tới nay, XK hàng hóa tiếp tục được dẫn dắt bởi nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 63,5 tỷ USD, dẫn đầu các mặt hàng XK; tiếp theo là máy móc, thiết bị với gần 29,9 tỷ USD và điện thoại, linh kiện đạt 29 tỷ USD. Tính chung 3 nhóm hàng này đã mang về hơn 122 tỷ USD, chiếm trên một nửa tổng kim ngạch XK của cả nước. Bên cạnh đó, nhiều ngành hàng truyền thống tiếp tục duy trì quy mô XK lớn, dù tốc độ tăng có phần chậm lại như dệt may, giày dép, gỗ và sản phẩm gỗ. Riêng 4 nhóm hàng của ngành nông nghiệp đã tạo nên doanh thu xuất khẩu trên 15 tỷ USD (rau quả gần 3,2 tỷ USD; cà phê đạt gần 4,5 tỷ USD; thủy sản đạt gần 5,2 tỷ USD; gạo đạt 2,2 tỷ USD).
Các chuyên gia đã chỉ ra những rào cản, khó khăn đang ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và kim ngạch XK của hàng hóa Việt Nam. Một trong những khó khăn lớn nhất giai đoạn này là chi phí logistics tăng rất nhanh. Chỉ trong thời gian từ đầu năm đến giữa tháng 6, cước vận chuyển container đi Rotterdam tăng từ khoảng 5.400 USD lên 6.500 USD, đến New York tăng từ 6.500 USD lên khoảng 7.900 USD, tương đương mức tăng gần 30%. Trong khi đó, doanh nghiệp khó tăng giá bán do áp lực cạnh tranh quốc tế. Áp lực này không chỉ nằm ở giá cước mà còn ở thời gian vận chuyển kéo dài, không chỉ làm tăng chi phí mà còn ảnh hưởng đến dòng tiền của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, trong bối cảnh các thị trường ngày càng coi trọng phát triển bền vững, hệ thống logistics hiện tại chưa nâng đủ tầm để trở thành mắt xích quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.
Đề cập nguyên nhân dẫn đến nhập siêu cao, chuyên gia cho rằng, trước hết là do yếu tố giá cả hàng hóa nguyên vật liệu tăng cao, cùng với tâm lý lo ngại đứt gãy chuỗi cung ứng do chiến tranh khiến DN chủ động NK nguyên vật liệu nhiều hơn. Chi nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tính đến ngày 15/06 đạt hơn 99,2 tỷ USD (tăng hơn 60% so với cùng kỳ 2025), tiếp đến là máy móc, thiết bị và phụ tùng đạt hơn 31,1 tỷ USD (tương đương cùng kỳ 2025). Cùng với đó, các doanh nghiệp cũng tăng NK nhiều nguyên liệu đầu vào như vải các loại, kim loại thường, chất dẻo nguyên liệu, xăng dầu và sắt thép phục vụ hoạt động chế biến, chế tạo. Ngoài ra, do xung đột tại Trung Đông đẩy giá năng lượng biến động mạnh. Chưa đầy 6 tháng, nhập khẩu xăng dầu, dầu thô, khí hóa lỏng và sản phẩm từ dầu mỏ đã vượt 12 tỷ USD, so với cùng kỳ tăng gần 4 tỷ USD. Các chuyên gia kỳ vọng, lượng hàng nhập trong hai quý đầu năm này sẽ chuyển hóa thành vật liệu đầu vào cho sản xuất quý III và quý IV.
Với kết quả tăng trưởng tính đến ngày 15/06 đạt trên 25%, kim ngạch xấp xỉ 500 tỷ USD, XNK đang trên đà cán đích 1.000 tỷ USD trong cả năm 2026, thậm chí ở kịch bản cao có thể vượt mốc nghìn tỷ USD.
Các chuyên gia khuyến nghị, đối với doanh nghiệp XK Việt Nam, việc chủ động thích ứng, đa dạng hóa thị trường và tối ưu chi phí sẽ là yếu tố then chốt để duy trì năng lực cạnh tranh trong bối cảnh nhiều biến động; đối với Chính phủ, việc hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng hạ tầng logistics, mở rộng thị trường và hỗ trợ DN tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do sẽ giúp DN giảm chi phí, tăng biên lợi nhuận, …
Tóm lược thị trường trong nước từ 22/06 - 26/06/2026
Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 22/06 - 26/06, tỷ giá trung tâm tiếp tục được NHNN điều chỉnh tăng nhẹ ở hầu hết các phiên. Chốt ngày 26/06, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.195 VND/USD, tăng 14 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. NHNN niêm yết tỷ giá mua giao ngay ở mức 23.986 VND/USD, cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn; tỷ giá bán giao ngay được niêm yết ở mức 26.404 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần.
Tỷ giá LNH trong tuần từ 22/06 - 26/06 tăng – giảm đan xen qua các phiên. Kết thúc phiên 26/06, tỷ giá LNH đóng cửa tại 26.297 VND/USD, giảm 10 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.
Tỷ giá trên thị trường tự do cũng diễn biến tăng – giảm đan xen. Chốt phiên 26/06, tỷ giá tự do tăng 184 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 26.494 VND/USD và 26.594 VND/USD.
Thị trường tiền tệ LNH: Tuần từ 22/06 - 26/06, lãi suất VND LNH tăng – giảm trái chiều ở các kỳ hạn từ 1M trở xuống. Chốt ngày 26/06, lãi suất VND LNH giao dịch ở mức: ON 3,00% (-1,50 đpt); 1W 7,90% (+2,40 đpt); 2W 7,85% (+0,25 đpt); 1M 7,20% (-1,00 đpt).
Lãi suất USD LNH biến động nhẹ qua các phiên, kết thúc phiên cuối tuần 26/06 giao dịch ở mức: ON 3,66% (không thay đổi); 1W 3,70 (không thay đổi); 2W 3,75% (+0,01 đpt) và 1M 3,82% (+0,04 đpt).
Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần qua từ 22/06 - 26/06, ở kênh cầm cố, NHNN chào thầu 35.000 tỷ đồng với các kỳ hạn 35 ngày và 56 ngày, lãi suất duy trì ở mức 4,5%. Kết quả có 30.961,15 tỷ đồng trúng thầu. Trong tuần có 27.000 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.
NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN trong tuần từ 22/06 - 26/06.
Như vậy, tuần qua, NHNN bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở. Có 229.651,98 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.
Thị trường trái phiếu: Phiên 24/06, KBNN đấu thầu thành công 4.385 tỷ đồng/17.000 tỷ đồng TPCP gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu chỉ đạt 26%). Trong đó, kỳ hạn 3Y huy động được 125 tỷ đồng/500 tỷ đồng gọi thầu, 5Y huy động được 1.550 tỷ đồng/6.000 tỷ đồng gọi thầu, 10Y huy động được 2.470 tỷ đồng/9.000 tỷ đồng gọi thầu và kỳ hạn 30Y huy động được 240 tỷ đồng/500 tỷ đồng. Kỳ hạn 15Y gọi thầu 1.000 tỷ đồng, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu. Lãi suất trúng thầu ở kỳ hạn 3Y là 3,52% (+0,01 đpt so với lần đấu thầu trước), 5Y là 4,18% (+0,03 đpt), 10Y là 4,35% (không đổi) và 30Y là 4,58% (+0,01 đpt).
Ngày 01/07, KBNN dự kiến chào thầu 16.000 tỷ đồng TPCP, trong đó kỳ hạn 3Y chào thầu 500 tỷ đồng, kỳ hạn 5Y chào thầu 5.000 tỷ đồng, kỳ hạn 10Y chào thầu 9.000 tỷ đồng, kỳ hạn 15Y chào thầu 1.000 tỷ đồng và kỳ hạn 30Y chào thầu 500 tỷ đồng.
Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 19.881 tỷ đồng/phiên, tăng so với mức bình quân 17.821 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP diễn biến tăng nhẹ ở hầu hết các kỳ hạn. Chốt phiên 26/06, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1Y là 3,39% (+0,02 đpt); 2Y là 3,50% (+0,02 đpt); 3Y là 3,57% (+0,01 đpt); 5Y là 4,19% (+0,003 đpt); 7Y là 4,25% (+0,001 đpt); 10Y là 4,40% (+0,01 đpt); 15Y là 4,57% (+0,005 đpt); 30Y là 4,69% (không đổi).
Thị trường chứng khoán: Tuần từ 22/06 - 26/06, thị trường chứng khoán diễn biến trái chiều ở các chỉ số chính. Kết thúc phiên 26/06, VN-Index đứng ở mức 1.871,91 điểm, tăng mạnh 47,38 điểm (+2,60%) so với phiên cuối tuần trước đó; HNX-Index giảm trở lại 7,00 điểm (-2,15%) xuống mức 317,83 điểm, UPCom-Index thêm 1,40 điểm (+1,10%) đạt 128,92 điểm.
Thanh khoản thị trường trung bình đạt trên 14.840 tỷ đồng/phiên, giảm so với mức 16.650 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Khối ngoại mua ròng hơn 610 tỷ đồng trên cả 3 sàn.
Tin quốc tế
Nước Mỹ đón nhiều chỉ báo kinh tế đáng chú ý. Cơ quan Phân tích Kinh tế Mỹ công bố GDP nước này chính thức tăng trưởng 2,1% q/q trong quý đầu năm 2026, cao hơn so với mức tăng 1,6% theo thống kê sơ bộ. Về lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng cá nhân PCE lõi tại Mỹ được công bố tăng 0,3% m/m trong tháng 5, bằng với mức tăng của tháng trước đó và cũng khớp với dự báo. So với cùng kỳ năm 2025, PCE lõi tăng 3,4% y/y trong tháng 5, mở rộng nhẹ so với mức tăng 3,3% của tháng 4. PCE toàn phần trong tháng vừa qua cũng ghi nhận mức tăng 0,4% m/m và 4,1% y/y. Về thị trường lao động, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại Mỹ tuần kết thúc ngày 20/06 ở mức 215 nghìn đơn, giảm xuống từ 227 nghìn của tuần trước đó, thấp hơn mức 225 nghìn đơn theo dự báo. Số đơn bình quân 4 tuần gần nhất là 224,25 nghìn, tăng 0,75 nghìn so với 4 tuần liền trước. Tiếp theo, S&P Global khảo sát cho biết PMI lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực dịch vụ tại Mỹ lần lượt ở mức 55,7 và 51,3 điểm trong tháng 6, cùng tăng lên so với 55,1 và 50,7 điểm của tháng trước đó, đồng thời cao hơn mức 54,6 và 51,1 điểm theo dự báo. Về thị trường bất động sản, doanh số bán nhà mới tại Mỹ đạt 580 nghìn căn trong tháng 5, giảm so với mức 626 nghìn căn ở tháng 4, trái với kỳ vọng tăng nhẹ lên thành 638 nghìn căn. Cuối cùng, cán cân vãng lai tại Mỹ ghi nhận mức thâm hụt 227 tỷ USD trong quý đâu năm, không biến động nhiều so với mức thâm hụt 221 tỷ của quý trước đó và lớn hơn so với dự báo thâm hụt 212 tỷ. Trong tuần này, thế giới chờ đợi báo cáo chi tiết về thị trường lao động Mỹ tháng 5, được công bố vào tối ngày 02/07 theo giờ Việt Nam.
Nước Úc cũng ghi nhận các thông tin kinh tế quan trọng. Đầu tiên, Văn phòng Thống kê Úc công bố chỉ số giá tiêu dùng CPI toàn phần tại nước này giảm 0,7% m/m trong tháng 5 sau khi tăng 0,4% ở tháng trước đó, sâu hơn mức giảm 0,4% theo kỳ vọng. Theo đó, CPI nước này tăng 4,0% y/y trong tháng vừa qua, thu hẹp so với mức tăng 4,2% của tháng 4 và cũng hẹp hơn mức 4,3% theo dự báo. CPI lõi tháng 5 ghi nhận mức tăng 3,6% y/y, cao hơn mức 3,4% của tháng trước đó và khớp với dự báo. Tiếp theo, về thị trường lao động, nước Úc tạo ra 40,3 nghìn việc làm mới trong tháng 5 sau khi giảm 40,7 nghìn ở tháng 4, cao hơn mức 31,2 nghìn theo kỳ vọng. Tỷ lệ thất nghiệp của nước này trong tháng vừa qua ghi nhận ở mức 4,4%, giảm xuống so với mức 4,5% của tháng 4, khớp với dự báo của thị trường. Cuối cùng, mức tiêu dùng của các hộ gia đình tại Úc trong tháng 5 tăng 1,3% m/m sau khi giảm 1,1% ở tháng 4, vượt qua mức tăng 0,5% theo kỳ vọng. So với cùng kỳ, mức tiêu dùng hộ gia đình tăng khoảng 5,5% y/y.
Tổng hợp Kinh tế - Tài chính tuần 22/06 - 26/06/2026