Tin trong nước:
Thị trường ngoại tệ: Phiên 23/09, NHNN niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 25.635 VND/USD, giảm 05 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá mua giao ngay được niêm yết ở mức 24.404 VND/USD, cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn. Tỷ giá bán giao ngay được niêm yết ở mức 26.866 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần. Trên thị trường LNH, tỷ giá chốt phiên với mức 26.013 VND/USD, giảm nhẹ 01 đồng so với phiên 22/09. Tỷ giá trên thị trường tự do giảm 20 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, giao dịch tại 25.930 VND/USD và 26.030 VND/USD.
Thị trường tiền tệ LNH: Ngày 23/09, lãi suất bình quân LNH VND giảm 0,05 - 1,90 đpt ở hầu hết các kỳ hạn ngoại trừ đi ngang ở kỳ hạn 1M so với phiên trước đó, giao dịch tại: ON 2,50%; 1W 5,55%; 2W 5,43% và 1M 6,60%. Lãi suất bình quân LNH USD giữ nguyên ở các kỳ hạn ON và 2W trong khi giảm 0,02 đpt ở các kỳ hạn 1W và 1M; giao dịch tại: ON 3,83%; 1W 3,88%; 2W 3,91%, 1M 3,98. Lợi suất TPCP trên thị trường thứ cấp đi ngang ở các kỳ hạn 3Y và 15Y trong khi giảm ở các kỳ hạn còn lại, chốt phiên: 3Y 3,71%; 5Y 4,29%; 7Y 4,33%; 10Y 4,47%; 15Y 4,58%.
Nghiệp vụ thị trường mở: Trên kênh cầm cố, NHNN chào thầu 1.000 tỷ đồng ở mỗi kỳ hạn 07 ngày, 14 ngày và ngày 91 ngày, 2.000 tỷ đồng ở kỳ hạn 35 ngày, lãi suất đều giữ ở mức 4,5%. Có 1.245,53 tỷ đồng trúng thầu ở cả 4 kỳ hạn. Có 4.361,03 tỷ đồng đáo hạn. Như vậy, NHNN hút ròng 3.115,50 tỷ đồng từ thị trường qua nghiệp vụ thị trường mở phiên hôm qua. Có 196.637,39 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.
Thị trường trái phiếu: Phiên 23/09, KBNN đấu thầu thành công 27.169 tỷ đồng/33.000 tỷ đồng TPCP gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu đạt 82%). Trong đó, kỳ hạn 5Y trúng thầu 6.500 tỷ đồng/9.000 tỷ đồng gọi thầu, 10Y trúng thầu 20.619 tỷ đồng/22.000 tỷ đồng gọi thầu, kỳ hạn 30Y trúng thầu 50/500 tỷ đồng gọi thầu. Kỳ hạn 3Y gọi thầu 500 tỷ đồng, 15Y 1.000 tỷ đồng, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu ở cả 2 kỳ hạn. Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 5Y ở mức 4,27%, 10Y 4,43%, 30Y 4,62% (đều không thay đổi so với phiên đấu thầu trước).
Thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán phiên hôm qua tiêu cực, các chỉ số chính kết phiên dưới mốc tham chiếu. Chốt phiên, VN-Index giảm 15,28 điểm (-0,84%) xuống mức 1.801,65 điểm; HNX-Index mất 0,48 điểm (-0,17%) còn 276,45 điểm; UPCoM-Index lùi 0,12 điểm (-0,10%) về 126,01 điểm. Thanh khoản thị trường ở mức thấp với giá trị giao dịch đạt trên 13.300 tỷ đồng. Khối ngoại bán ròng 1.070 tỷ đồng trên cả 3 sàn.
Tại họp báo công bố Báo cáo Triển vọng Phát triển châu Á ADO tháng 9/2026 sáng 23/09, Ngân hàng Phát triển châu Á ADB nâng dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam lên 7,8% trong năm 2026 và 7,6% trong năm 2027, phản ánh kết quả tăng trưởng vượt kỳ vọng trong nửa đầu năm. So với ấn phẩm ADO tháng 7, dự báo tăng trưởng năm 2026 được nâng từ 7,2%, năm 2027 được nâng từ 7,0%. Tuy nhiên, ADB nâng dự báo lạm phát Việt Nam lên 4,3% (từ 4% theo ADO tháng 7) trong năm 2026 và 4,0% (từ 3,8%) trong năm 2027, trong bối cảnh áp lực cầu tiếp tục duy trì và chi phí năng lượng, nhập khẩu gia tăng.
Tin quốc tế:
Báo cáo ADO tháng 9 do Ngân hàng Phát triển châu Á ADB phát hành dự báo tăng trưởng tại các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á và Thái Bình Dương giảm từ 5,5% năm 2025 xuống 5,0% năm 2026, trước khi nhích lên 5,1% năm 2027. Dự báo tăng trưởng năm 2026 được điều chỉnh tăng 0,1 đpt so với ADO tháng 7. Lạm phát tại khu vực năm 2026 được ADB hạ dự báo từ 4,3% xuống 4,2%, trong khi dự báo năm 2027 được nâng nhẹ từ 3,4% lên 3,5%. Cả hai mức này vẫn cao hơn mức 3% của năm 2025.
Lĩnh vực dịch vụ tại Đức bứt phá trong khi lĩnh vực sản xuất trầm lắng. Theo S&P Global, chỉ số PMI sơ bộ tháng 9 của Đức đạt 53,8 điểm, giảm nhẹ so với mức 54,3 điểm của tháng 8 và thấp hơn dự báo của thị trường ở mức 54,5 điểm. Trong khi đó, PMI lĩnh vực dịch vụ tại nước này phục hồi tích cực lên mức 52,9 điểm trong tháng 9 từ mức 49,7 điểm của tháng 8, đạt mức cao nhất trong 7 tháng. Từ PMI tổng hợp, ó thể thấy dù ngành sản xuất có chậm lại đôi chút, toàn bộ khi vực tư nhân của Đức vẫn ghi nhận tốc độ nhanh nhất 11 tháng nhờ sự hồi phục mạnh mẽ của lĩnh vực dịch vụ. Đơn hàng mới tăng tháng thứ ba liên tiếp với tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 2, được hỗ trợ bởi chi tiêu đầu tư cao hơn. Tuyển dụng tập trung chủ yếu ở lĩnh vực dịch vụ. Tuy nhiên, chi phí đầu vào tăng với tốc độ nhanh nhất 4 tháng và vượt đáng kể so với mức trung bình dài hạn khi giá nhiên liệu và năng lượng tăng cao.
Lĩnh vực sản xuất và dịch vụ của Úc đều trầm lắng hơn trong tháng 9. Theo kết quả khảo sát của S&P Global, chỉ số PMI sơ bộ tháng 9 của Úc lĩnh vực sản xuất và dịch vụ lần lượt ở mức 49,3 điểm và 51,4 điểm, cùng thấp hơn mức 52,0 điểm và 53,2 điểm của tháng 8. Theo S&P Global, tăng trưởng trong ngành dịch vụ của Úc vẫn được duy trì, mặc dù đã chậm lại tháng thứ hai liên tiếp. Trong khi đó, sản lượng ngành sản xuất tiếp tục sụt giảm – mức giảm mạnh nhất trong 21 tháng – trong bối cảnh số lượng đơn đặt hàng lại tiếp tục co hẹp. Nhu cầu suy yếu là nguyên nhân chính dẫn đến sự chậm lại trong tốc độ tăng trưởng sản lượng. Sự sụt giảm trở lại của các đơn đặt hàng sản xuất mới đã gây áp lực lên đà tăng trưởng chung. Đồng thời, đơn đặt hàng xuất khẩu mới đã giảm lần thứ năm trong vòng sáu tháng, một phần cũng do sự suy yếu của ngành sản xuất.
Bản tin Kinh tế - Tài chính ngày 24/09/2026