Tổng quan:
Từ đầu năm 2026 đến nay, thị trường lãi suất huy động tại các ngân hàng thương mại Việt Nam ghi nhận sự đảo chiều rõ rệt, chuyển từ trạng thái kiềm chế của năm 2025 sang xu hướng điều chỉnh tăng.
Lãi suất huy động 3 tháng đầu năm diễn biến theo ba giai đoạn: tăng nhẹ thăm dò, tạm chững lại, rồi tăng tốc mạnh. Cụ thể:
- Trong tháng 1/2026, lãi suất huy động đã bắt đầu nhích lên so với cuối năm 2025. Mức tăng tuy chưa lớn nhưng diễn ra trên diện rộng ở nhiều kỳ hạn: các kỳ hạn ngắn từ 1 đến 6 tháng tăng khoảng 0,1 đpt, trong khi các kỳ hạn trung và dài từ 6 đến 12 tháng tăng cao hơn, khoảng 0,1–0,4 đpt. Mặt bằng lãi suất vẫn tương đối thấp nếu so với các chu kỳ trước. Nhóm NHTM nhà nước duy trì quanh mức hơn 5%/năm kỳ hạn 12 tháng. Một số NHTMCP tiệm cận hoặc vượt 7%/năm ở các kỳ hạn dài.
- Sang tháng 2/2026, thị trường ghi nhận sự tạm chững lại về lãi suất huy động, đặc biệt ở nhóm NH lớn. Lãi suất huy động gần như không có biến động đáng kể so với tháng trước đó, nhất là ở các kỳ hạn ngắn.
- Tháng 3/2026, lãi suất huy động bước vào giai đoạn tăng mạnh và lan rộng trên toàn hệ thống. Các NH đồng loạt điều chỉnh biểu lãi suất theo hướng tăng đáng kể, trong đó có cả các NHTMNN – nhóm thường có xu hướng điều chỉnh chậm hơn. Đáng chú ý, mức tăng ở một số kỳ hạn ngắn lên tới hơn 1 đpt, trong khi các kỳ hạn trung và dài cũng được đẩy lên rõ rệt. Mặt bằng lãi suất mới hình thành với các mức phổ biến từ 6% đến 6,5%/năm cho kỳ hạn 6–12 tháng ở nhóm NH lớn; ở nhóm NHTMCP, đặc biệt với các chương trình ưu đãi, lãi suất có thể đạt 7–8%/năm, thậm chí xuất hiện các mức trên 8%/năm.
Một điểm đáng chú ý là vẫn có sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm NH. Nhóm NHTMNN vẫn duy trì mức lãi suất thấp hơn tương đối so với nhóm NHTMCP. Bên cạnh đó, lãi suất ở các kỳ hạn dài tăng mạnh hơn so với kỳ hạn ngắn, phản ánh nhu cầu ổn định nguồn vốn trung và dài hạn của các NH. Ngoài ra, sự tồn tại của các mức lãi suất “ngoài biểu” hoặc ưu đãi theo điều kiện cũng khiến mặt bằng thực tế cao hơn mức niêm yết.
Theo các chuyên gia, các yếu tố sau góp phần thúc đẩy lãi suất huy động tăng trong thời gian qua. Thứ nhất, nhu cầu vốn của nền kinh tế đang bước vào chu kỳ tăng trưởng mới, đặc biệt là nhu cầu vốn dài hạn cho các dự án đầu tư công và hạ tầng, các NHTM phải đẩy mạnh huy động vốn để đáp ứng nhu cầu cho vay. Thứ hai, áp lực từ lạm phát và tỷ giá buộc các ngân hàng phải duy trì mức lãi suất hấp dẫn hơn để giữ chân dòng tiền gửi, tránh việc dòng vốn dịch chuyển sang các kênh đầu tư khác như vàng, ngoại tệ hoặc bất động sản. Thứ ba, thanh khoản hệ thống NH không còn dư thừa như giai đoạn trước, đặc biệt khi tăng trưởng tín dụng được đẩy mạnh, khiến chi phí vốn có xu hướng tăng lên. Đồng thời, chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn vẫn ở mức cao. Tính đến cuối tháng 2, tín dụng tăng 1,4% trong khi huy động vốn chỉ tăng 0,36% so với cuối năm trước. Thứ tư, yếu tố cạnh tranh nội bộ ngành NH cũng đóng vai trò quan trọng. Các NHTMCP, đặc biệt là nhóm quy mô vừa và nhỏ, thường nâng lãi suất để thu hút khách hàng, từ đó tạo áp lực lan tỏa lên toàn hệ thống.
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng, NHNN vừa có Công văn số 2342/NHNN-CSTT ngày 30/03/2026 về việc thực hiện các giải pháp để ổn định mặt bằng lãi suất. NHNN yêu cầu các NHTM cần chủ động thực hiện các giải pháp nhằm ổn định mặt bằng lãi suất, đảm bảo sự hài hòa giữa mục tiêu kinh doanh và yêu cầu điều hành vĩ mô. Việc cân đối giữa nguồn vốn huy động và sử dụng vốn được đặt ra như một yêu cầu then chốt, nhằm đảm bảo thanh khoản và khả năng chi trả, đồng thời tránh gây xáo trộn mặt bằng lãi suất trên thị trường.
Vì vậy, các chuyên gia cũng nhận định, trong ngắn hạn, nhiều khả năng xu hướng tăng của lãi suất huy động sẽ tiếp tục duy trì nhưng với mức thận trọng hơn, ít nhất trong nửa đầu năm 2026. Mức độ tăng tiếp theo sẽ phụ thuộc nhiều vào việc điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt là các biện pháp của NHNN nhằm cân đối giữa mục tiêu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, các chuyên gia cảnh báo, việc tăng lãi suất huy động tuy giúp ngân hàng thu hút vốn nhàn rỗi và cải thiện thanh khoản, nhưng đồng thời sẽ làm biên lãi ròng (NIM) chịu áp lực, đẩy chi phí cho vay tăng theo, điều này tác động trực tiếp đến chi phí vốn của doanh nghiệp và người dân.
Tóm lược thị trường trong nước từ 30/03 - 03/04/2026
Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 30/03 - 03/04, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh tăng nhẹ trong các phiên đầu tuần và được giữ nguyên ở các phiên sau đó. Chốt ngày 03/04, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.107 VND/USD, tăng 07 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. NHNN niêm yết tỷ giá mua giao ngay ở mức 23.902 VND/USD, cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn; tỷ giá bán giao ngay được niêm yết mức ở mức 26.312 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần.
Tỷ giá LNH trong tuần từ 30/03 - 03/04 có xu hướng giảm và chỉ quay trở lại tăng trong phiên cuối tuần. Kết thúc phiên 03/04, tỷ giá LNH đóng cửa tại 26.339 VND/USD, giảm nhẹ 03 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.
Tỷ giá trên thị trường tự do biến động giảm mạnh chủ yếu vào các phiên giữa tuần. Chốt phiên 03/04, tỷ giá tự do giảm 244 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 26.847 VND/USD và 26.987 VND/USD.
Thị trường tiền tệ LNH: Tuần từ 30/03 - 03/04, lãi suất VND LNH tăng mạnh ở phiên đầu tuần và giảm dần ở các phiên sau đó, đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn ON – 1W. Kết thúc ngày 03/04, lãi suất VND LNH giao dịch ở mức: ON 5,50% (+1,0 đpt); 1W 6,00% (-1,0 đpt); 2W 6,90% (-0,55 đpt); 1M 7,80% (+0,35 đpt).
Lãi suất USD LNH biến động tăng – giảm nhẹ qua các phiên, chốt phiên cuối tuần 03/04 giao dịch ở mức: ON 3,63% (-0,01 đpt); 1W 3,69% (+0,01 đpt); 2W 3,72% (-0,01 đpt) và 1M 3,75% (-0,01 đpt).
Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần qua từ 30/03 - 03/04, ở kênh cầm cố, NHNN chào thầu 258.000 tỷ đồng với các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày, 35 ngày và 56 ngày, lãi suất duy trì ở mức 4,5%. Trong đó, có 80.000 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 7 ngày, 121.000 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 14 ngày, 5.988,46 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 35 ngày và 48.793,12 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 56 ngày. Có 145.627,89 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.
NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN trong tuần từ 30/03 - 03/04.
Như vậy, tuần qua, NHNN bơm ròng 110.153,69 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở. Có 354.824,58 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.
Thị trường trái phiếu: Phiên 01/04, KBNN đấu thầu thành công 3.485 tỷ đồng/13.500 tỷ đồng TPCP gọi thầu, tỷ lệ trúng thầu đạt 26%. Trong đó, kỳ hạn 5Y huy động được 85 tỷ đồng/1.000 tỷ đồng gọi thầu và kỳ hạn 10Y huy động được 3.400 tỷ đồng/11.000 tỷ đồng gọi thầu. Kỳ hạn 15Y và 30Y gọi thầu lần lượt 1.000 tỷ đồng và 500 tỷ đồng, tuy nhiên, không có khối lượng trúng thầu ở cả 2 kỳ hạn. Lãi suất trúng thầu ở kỳ hạn 5Y là 3,70% (+0,10 đpt so với phiên đấu thầu trước), 10Y là 4,12% (+0,01 đpt).
Ngày 08/04, KBNN dự kiến chào thầu 13.500 tỷ đồng TPCP, trong đó kỳ hạn 5Y chào thầu 1.000 tỷ đồng, kỳ hạn 10Y chào thầu 11.000 tỷ đồng, kỳ hạn 15Y chào thầu 1.000 tỷ đồng và kỳ hạn 20Y chào thầu 500 tỷ đồng.
Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp trong tuần đạt trung bình 20.168 tỷ đồng/phiên, tăng nhẹ so với mức 19.567 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP trong tuần chỉ biến động nhẹ ở các phiên giữa tuần với các kỳ hạn từ 5Y - 10Y. Chốt phiên 03/04, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1Y 3,20% (không đổi so với phiên cuối tuần trước đó); 2Y 3,30% (không đổi); 3Y 3,39% (không đổi); 5Y 4,06% (không đổi); 7Y 4,12% (+0,005 đpt); 10Y 4,21% (+0,005 đpt); 15Y 4,31% (không đổi); 30Y 4,47% (không đổi).
Thị trường chứng khoán: Tuần từ 30/03 - 03/04, thị trường chứng khoán biến động tăng – giảm mạnh qua các phiên do ảnh hưởng bởi diễn biến thị trường quốc tế khi căng thẳng Mỹ - Iran leo thang. Kết thúc phiên 03/04, VN-Index đứng ở mức 1.684,04 điểm, tăng 11,24 điểm (+0,67%) so với phiên cuối tuần trước đó; HNX-Index giảm 3,68 điểm (-1,46%) xuống mức 248,68 điểm; UPCom-Index tăng 2,21 điểm (+1,78%) đạt 126,53 điểm.
Thanh khoản thị trường trung bình đạt hơn 22.200 tỷ đồng/phiên, tăng nhẹ từ mức 21.900 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Khối ngoại tiếp tục bán ròng hơn 1.122 tỷ đồng trên cả 3 sàn.
Tin quốc tế
Trong bài phát biểu của ông Powell, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Fed, tại Đại học Harvard ngày 30/03, vị Chủ tịch Fed cho rằng trạng thái CSTT hiện tại đang cho phép cơ quan này chờ đợi tác động của giá dầu tăng vọt tác động lên lạm phát và nền kinh tế Mỹ. Ông lưu ý rằng các công cụ CSTT tác động lên cầu, và thực sự “không có bất kỳ tác động có ý nghĩa nào” trong ngắn hạn đối với các cú sốc nguồn cung dầu. Các cú sốc năng lượng có xu hướng đến và đi khá nhanh, trong khi CSTT hoạt động với độ trễ lớn. Theo ông Powell, tác động của giá dầu có thể lớn và cũng có thể nhỏ hơn nhiều so với những gì thị trường đang tưởng tượng.
Về kinh tế Mỹ, Viện Quản lý Cung ứng ISM khảo sát chỉ số PMI lĩnh vực sản xuất tại nước này trong tháng 3 đạt 52,7%, tăng lên từ mức 52,4% của tháng trước đó và cao hơn mức 52,3% theo dự báo. Đây cũng là mức PMI sản xuất cao nhất kể từ tháng 08/2022 cho tới nay. Về thị trường bán lẻ, doanh số bán lẻ lõi tại Mỹ tăng 0,5% trong tháng 2 sau khi đi ngang (0,0% m/m) ở tháng 1, cao hơn mức tăng 0,3% theo dự báo. Doanh số bán lẻ toàn phần cũng ghi nhận mức tăng 0,6% m/m trong tháng 2 sau khi giảm 0,1% ở tháng trước đó, vượt nhẹ so với mức tăng 0,5% theo kỳ vọng. So với cùng kỳ năm 2025, doanh số bán lẻ toàn phần tăng khoảng 3,7% y/y. Cuối cùng, về thị trường lao động, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại Mỹ tuần kết thúc ngày 28/03 ở mức 202 nghìn đơn giảm xuống từ 211 nghìn của tuần trước đó và đồng thời thấp hơn mức 212 nghìn đơn theo dự báo. Số đơn bình quân 4 tuần gần nhất ở mức 207,75 nghìn, giảm 3 nghìn so với bình quân 4 tuần liền trước. Trong tháng 3 nước Mỹ tạo ra 178 nghìn việc làm phi nông nghiệp mới, sau khi giảm 133 nghìn ở tháng 2, cao hơn mức tăng 65 nghìn theo kỳ vọng. Tỷ lệ thất nghiệp tháng 3 của nước này theo đó giảm xuống còn 4,3%, trái với dự báo đi ngang ở mức 4,4%. Thu nhập bình quân theo giờ của người lao động Mỹ tăng 0,2% m/m trong tháng vừa qua, nối tiếp mức tăng 0,4% của tháng 2 và thấp hơn một chút so với mức tăng 0,2% theo dự báo.
Khu vực Eurozone cũng ghi nhận một số chỉ báo kinh tế quan trọng. Đầu tiên, về lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng CPI lõi tại Eurozone thu hẹp còn 2,3% y/y trong tháng 3, trái với dự báo tiếp tục đi ngang ở mức 2,4%. Mặc dù vậy, CPI lõi tại khu vực này tăng lên mức 2,5% y/y trong tháng vừa qua, cao hơn khá nhiều so với mức tăng 1,9% của tháng trước đó, gần khớp với dự báo tăng 2,6%. Nguyên nhân chính do giá năng lượng có sự đảo chiều, tăng 4,9% y/y trong tháng 3 sau khi ghi nhận giảm 3,1% ở tháng 2. Tiếp theo, về thị trường lao động, tỷ lệ thất nghiệp tại Eurozone tăng nhẹ lên mức 6,2% trong tháng 2, trái với dự báo tiếp tục đi ngang ở mức 6,1%. Tuy nhiên, đây cũng vẫn là mức thất nghiệp thấp của khu vực này trong suốt chiều dài được thống kê. Cuối cùng, S&P Global công bố PMI lĩnh vực sản xuất tại Eurozone chính thức đạt 51,6 điểm trong tháng 3, điều chỉnh tăng lên từ 51,4 điểm theo kết quả khảo sát sơ bộ.
Tổng hợp Kinh tế - Tài chính tuần 30/03 - 03/04/2026