Tổng quan:
Kết quả giải ngân đầu tư công 3 quý đầu năm khá tích cực, tuy nhiên vẫn chưa đạt kỳ vọng.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách nhà nước năm 2026 được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao là 1.022.607 tỷ đồng, gồm 372.380,4 tỷ đồng vốn ngân sách trung ương và 650.226,6 tỷ đồng vốn ngân sách địa phương. Cùng với phần kế hoạch vốn cân đối ngân sách địa phương giao tăng, tổng kế hoạch đến thời điểm báo cáo 17/09/2026 đạt 1.037.322,1 tỷ đồng.
Đến ngày 17/09, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã phân bổ chi tiết 998.077,5 tỷ đồng, tương đương 97,6% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Phần vốn chưa phân bổ chủ yếu liên quan các dự án khởi công mới chưa hoàn tất thủ tục đầu tư hoặc các địa phương, đơn vị đề xuất điều chỉnh giảm để điều chuyển cho nơi có nhu cầu.
Lũy kế đến hết ngày 17/09, cả nước đã giải ngân 540.597,2 tỷ đồng vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước, đạt 52,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Nếu loại trừ 32.511,3 tỷ đồng vốn ngân sách địa phương dành tiết kiệm để dự kiến đầu tư tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, tỷ lệ giải ngân đạt 54,6% kế hoạch Thủ tướng giao. Riêng trong tuần từ ngày 10-17/9, cả nước giải ngân thêm 16.783,6 tỷ đồng. Trước đó, đến ngày 10/9, tỷ lệ giải ngân đạt 51,2% kế hoạch.
Có thể thấy, tuy đã rất nỗ lực, tỷ lệ giải ngân ĐTC sau gần 3 quý năm nay cũng mới chỉ đạt trên 50% kế hoạch. Đáng chú ý, tính đến ngày 31/08, các dự án, công trình trọng điểm ngành giao thông - vận tải thuộc Bộ Xây dựng mới giải ngân được 95.440 tỷ đồng, chỉ đạt 38% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ của toàn quốc. Đặc biệt, báo cáo của Bộ Tài chính cho biết, nhiều dự án quy mô lớn giải ngân dưới 30%. Đơn cử, các dự án Vành đai 3 TP.HCM, TP.HCM - Mộc Bài, Cần Thơ - Hậu Giang, Hậu Giang - Cà Mau, Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột, … Thậm chí, có 12 dự án thuộc Bộ Xây dựng có tỷ lệ giải ngân dưới 5%, với số vốn khoảng trên 93.000 tỷ đồng, … Đằng sau tỷ lệ giải ngân thấp có thể là chất lượng chuẩn bị dự án, năng lực chủ đầu tư, sự phối hợp giữa các cơ quan còn yếu, vướng mắc về đất đai và giải phóng mặt bằng, hoặc những bất cập trong cơ chế phân cấp và trách nhiệm quyết định, …
Ngay từ đầu năm, giải ngân 100% kế hoạch ĐTC (95% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao vào ngày 31/12/2026 và 100% vào ngày 31/01/2027) là mục tiêu được Chính phủ đặt ra và nhất quán chỉ đạo trong thời gian qua. Tuy vậy, kết quả cho đến nay chưa đạt kỳ vọng. Vì vậy, Chính phủ thường xuyên yêu cầu các Bộ ngành và địa phương phải vừa xử lý điểm nghẽn, vừa đẩy nhanh khối lượng thực hiện để “có đầu vào” cho giải ngân, khẳng định, với tổng số vốn rất lớn và là nguồn lực quan trọng, việc bảo đảm tiến độ, kế hoạch, chất lượng các dự án ĐTC sẽ góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong năm 2026, giảm hệ số sử dụng vốn (ICOR), tạo tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030. Chính phủ yêu cầu các chủ đầu tư rà soát từng dự án, làm rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan và trách nhiệm từng chủ thể; lấy kết quả thực tế và giá trị giải ngân làm thước đo hiệu quả công việc; xử lý tồn đọng, hoàn thiện hồ sơ để thanh toán dứt điểm; các chủ đầu tư/ban quản lý dự án phải lập lại tiến độ chỉ đạo, cập nhật kế hoạch thi công giải ngân từng tuần, xác định rõ hạng mục quyết định đến tiến độ dự án, điểm vướng mắc; quyết liệt chỉ đạo nhà thầu tổ chức thi công liên tục, tập trung hoàn thành hạng mục có giá trị lớn; rà soát hoàn thiện các thủ tục thanh toán; xử lý các nhà thầu chậm hồ sơ, không để xảy ra tình trạng mặt bằng đã bàn giao nhưng tiến độ thi công chậm, ảnh hưởng đến tốc độ giải ngân vốn ĐTC, …
Ngoài ra, Chính phủ cũng đặt ra yêu cầu về hiệu quả đầu tư. Cụ thể, cần đặt ít nhất bốn lớp thông tin của từng dự án ĐTC trong cùng một mối liên hệ: vốn đã bố trí, khối lượng thực hiện, tiến độ hoàn thành và kết quả sau khi công trình, dự án được đưa vào sử dụng. Khi những thông tin này được kết nối, tỷ lệ giải ngân mới có thể được nhìn nhận thực chất trong mối quan hệ với chất lượng và hiệu quả đầu tư vốn công, tạo ra giá trị cho nền kinh tế - xã hội.
Tóm lược thị trường trong nước từ 21/09 - 25/09/2026
Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 21/09 - 25/09, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh tăng – giảm nhẹ đan xen. Chốt ngày 25/09, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.641 VND/USD, tăng nhẹ 04 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. NHNN niêm yết tỷ giá mua giao ngay ở mức 24.409 VND/USD, cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn; tỷ giá bán giao ngay được niêm yết ở mức 26.873 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần.
Tỷ giá LNH trong tuần từ 21/09 - 25/09 diễn biến theo xu hướng giảm. Kết thúc phiên 25/09, tỷ giá LNH đóng cửa tại 25.976 VND/USD, giảm 46 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.
Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua cũng tăng – giảm đan xen. Chốt phiên 25/09, tỷ giá tự do tăng 70 đồng ở chiều mua vào và 60 đồng ở chiều bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 25.940 VND/USD và 26.040 VND/USD.
Thị trường tiền tệ LNH: Tuần từ 21/09 - 25/09, lãi suất VND LNH tăng – giảm mạnh đan xen ở tất cả các kỳ hạn từ 1M trở xuống. Chốt ngày 25/09, lãi suất VND LNH giao dịch ở mức: ON 0,70% (-3,80 đpt); 1W 5,60% (+0,80 đpt); 2W 5,75% (-0,25 đpt); 1M 6,20% (+0,20 đpt).
Lãi suất USD LNH biến động khá mạnh trái chiều giữa các kỳ hạn, kết thúc phiên cuối tuần 25/09 giao dịch ở mức: ON 3,85% (+0,06 đpt); 1W 3,88 (không thay đổi); 2W 3,92% (-0,01 đpt) và 1M 4,02% (+0,01 đpt).
Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần qua từ 21/09 - 25/09, ở kênh cầm cố, NHNN chào thầu 89.000 tỷ đồng với các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày, 35 ngày và 91 ngày, lãi suất duy trì ở mức 4,5%. Kết quả, có 67.576,11 tỷ đồng trúng thầu. Trong tuần có 33.247,07 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.
NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN trong tuần từ 21/09 - 25/09.
Như vậy, tuần qua, NHNN bơm ròng 34.329,04 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở. Có 186.817,13 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.
Thị trường trái phiếu: Phiên 23/09, KBNN đấu thầu thành công 27.169 tỷ đồng/33.000 tỷ đồng TPCP gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu đạt 82%). Trong đó, kỳ hạn 5Y trúng thầu 6.500 tỷ đồng/9.000 tỷ đồng gọi thầu, 10Y trúng thầu 20.619 tỷ đồng/22.000 tỷ đồng gọi thầu, kỳ hạn 30Y trúng thầu 50/500 tỷ đồng gọi thầu. Kỳ hạn 3Y gọi thầu 500 tỷ đồng, 15Y 1.000 tỷ đồng, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu ở cả 2 kỳ hạn. Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 5Y ở mức 4,27%, 10Y 4,43%, 30Y 4,62% (đều không thay đổi so với phiên đấu thầu trước).
Ngày 30/09, KBNN dự kiến chào thầu 18.000 tỷ đồng TPCP, trong đó kỳ hạn 3Y chào thầu 500 tỷ đồng, kỳ hạn 5Y chào thầu 5.000 tỷ đồng, kỳ hạn 10Y 11.000 tỷ đồng, kỳ hạn 15Y 1.000 tỷ đồng và kỳ hạn 30Y chào thầu 500 tỷ đồng.
Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 24.882 tỷ đồng/phiên, giảm mạnh so với mức 40.484 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP trong tuần qua ít biến động. Chốt phiên 25/09, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1Y 3,53% (không đổi); 2Y 3,64% (không đổi); 3Y 3,71% (không đổi); 5Y 4,30% (-0,003 đpt); 7Y 4,33% (không đổi); 10Y 4,47% (+0,005 đpt); 15Y 4,58% (không đổi); 30Y 4,73% (không đổi).
Thị trường chứng khoán: Tuần từ 21/09 - 25/09, thị trường chứng khoán tiêu cực, cả 3 chỉ số đều chốt tuần trong sắc đỏ. Kết thúc phiên 25/09, VN-Index đứng ở mức 1.785,11 điểm, giảm mạnh 30,55 điểm (-1,68%) so với phiên cuối tuần trước đó; HNX-Index mất 3,08 điểm (-1,12%) còn 272,21 điểm, UPCom-Index lùi 1,19 điểm (-0,94%) về 125,21 điểm.
Thanh khoản thị trường trung bình đạt trên 13.000 tỷ đồng/phiên, giảm khá mạnh từ mức 16.300 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Khối ngoại bán ròng gần 1.800 tỷ đồng trên cả 3 sàn.
Tin quốc tế
Nước Mỹ đón một số thông tin kinh tế trái chiều. Trên thị trường lao động, theo Công ty Xử lý dữ liệu tư động ADP của Mỹ, trong bốn tuần kết thúc vào ngày 05/09, các nhà tuyển dụng tư nhân tại nước này đã tạo thêm trung bình 20.000 việc làm phi nông nghiệp mỗi tuần. Con số này cao hơn mức 16.750 việc làm của 4 tuần liền trước đó. Bên cạnh đó, theo số liệu từ Bộ Lao động Mỹ, trong tuần kết thúc ngày 19/09, nước Mỹ có 197 nghìn người nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu, giảm nhẹ từ mức 198 nghìn của tuần trước đó, đồng thời thấp hơn dự báo tăng lên mức 201 nghìn đơn. Mức trung bình động 4 tuần là 202.250 đơn, giảm 1.750 so với mức trung bình đã điều chỉnh của 4 tuần liền trước đó. Trên thị trường bất động sản, doanh số bán nhà mới tại Mỹ trong tháng 8 đạt 684.000 căn, cao hơn mức 607.000 của tháng 7 và mức 615.000 dự báo của thị trường. Doanh số này tăng 6,4% m/m nhưng giảm 2,0% y/y. Mức giá trung bình trong tháng 8 là khoảng 393.700 USD/căn, giảm 5,8% y/y, do các nhà xây dựng tập trung vào phân khúc giá rẻ hơn. Tuy nhiên, lãi suất thế chấp mua nhà tại Mỹ vừa chính thức vượt mốc 7% (đạt khoảng 7,11% - 7,45% đối với kỳ hạn cố định 30 năm). Đây là mức cao nhất trong vòng 20 tháng qua, thiết lập ngay sau quyết định tăng lãi suất cơ bản của Cục Dự trữ Liên bang Fed nhằm kiềm chế lạm phát vốn đang chịu áp lực lớn từ cuộc xung đột ở Trung Đông.
Tuần qua, Thống đốc Ngân hàng Dự trữ Úc RBA Michele Bullock có bài phát biểu quan trọng, đồng thời nước Úc đón một số thông tin kinh tế tích cực. Phát biểu tại Ủy ban Phát triển Kinh tế Úc ngày 22/09, Thống đốc RBA cho biết, rủi ro gia tăng lạm phát có thể đang trở thành hiện thực do giá năng lượng vẫn ở mức cao và nhu cầu trong nước tiếp tục dư thừa. Tỷ lệ thất nghiệp trong khoảng từ 4,5% đến 5,0% có thể giúp kiềm chế lạm phát, cho thấy có thể cần phải tăng lãi suất từ mức hiện tại là 4,5%. Trước đó, Phó Thống đốc RBA Sarah Hunter nhắc lại rằng lãi suất có thể phải tăng lần thứ tư trong năm nay để đảm bảo lạm phát được kiềm chế. RBA đã tăng LSCS thêm 75 đcb kể từ tháng 2/2026, đưa LS trở lại mức cao nhất sau đại dịch là 4,35%. Tuy nhiên, lạm phát lõi vẫn ở mức 3,6%, cao hơn nhiều so với phạm vi mục tiêu từ 2% - 3% của RBA. Thị trường định giá dựa trên giả định 95% khả năng RBA sẽ tăng lãi suất lên 4,60% trong cuộc họp tới ngày 29/09, và dự đoán lãi suất sẽ đạt đỉnh 4,85% vào đầu năm sau. Liên quan đến thông tin kinh tế, lĩnh vực sản xuất và dịch vụ của Úc đều trầm lắng hơn trong tháng 9. Theo kết quả khảo sát của S&P Global, chỉ số PMI sơ bộ tháng 9 của Úc lĩnh vực sản xuất và dịch vụ lần lượt ở mức 49,3 điểm và 51,4 điểm, cùng thấp hơn mức 52,0 điểm và 53,2 điểm của tháng 8. Theo S&P Global, tăng trưởng trong ngành dịch vụ của Úc vẫn được duy trì, mặc dù đã chậm lại tháng thứ hai liên tiếp. Trong khi đó, sản lượng ngành sản xuất tiếp tục sụt giảm – mức giảm mạnh nhất trong 21 tháng – trong bối cảnh số lượng đơn đặt hàng lại tiếp tục co hẹp. Nhu cầu suy yếu là nguyên nhân chính dẫn đến sự chậm lại trong tốc độ tăng trưởng sản lượng. Trên thị trường lao động Úc, tỷ lệ thất nghiệp tại nước này tăng lên mức 4,6% trong tháng 8, từ mức 4,5% của tháng 7 cũng là dự báo của giới phân tích. Đây là tỷ lệ thất nghiệp cao nhất kể từ sau đại dịch Covid 2022. Mặc dù vậy, lực lượng lao động của Úc đã tăng thêm 67.700 người trong tháng 8, đẩy tỷ lệ tham gia lực lượng lao động lên mức 67,1% (tăng từ 66,9% của tháng 7).
Tổng hợp Kinh tế - Tài chính tuần 21/09 - 25/09/2026