Tổng quan:
Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong 8 tháng năm 2026 cán mốc lịch sử, đồng thời mức thâm hụt cán cân thương mại có dấu hiệu thu hẹp nhanh.
Theo số liệu sơ bộ của Cục Hải quan, Bộ Tài chính, tổng kim ngạch XNK hàng hóa 8 tháng năm 2026 đạt 770,14 tỷ USD, mức cao nhất của 8 tháng các năm từ trước đến nay, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm 2025. Đồng thời, CCTM nhập siêu tới 20,46 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 14,02 tỷ USD).
Cụ thể, trong 8 tháng năm 2026, XK hàng hóa đạt 374,84 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực kinh tế trong nước đạt 74,47 tỷ USD, tăng 7,4%, chiếm 19,9% tổng kim ngạch XK; khu vực có vốn ĐTNN đạt 300,37 tỷ USD, tăng 26,9%, chiếm tới 80,1%. Trong đó, XK chủ đạo là nhóm hàng công nghiệp chế biến chế tạo, đạt 337,99 tỷ USD, chiếm 90,2% tổng kim ngạch XK. Nhóm hàng nông lâm sản đạt 26,65 tỷ USD, chiếm 7,1%; nhóm hàng thủy sản đạt 8,0 tỷ USD, chiếm 2,1%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản đạt 2,2 tỷ USD, chỉ chiếm 0,6%.
Ở chiều ngược lại, kim ngạch NK 8 tháng năm 2026 đạt 395,3 tỷ USD, tăng 35,3% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn 12,9 đpt so với tốc độ tăng kim ngạch XK. Trong đó, khu vực trong nước nhập khẩu 105,07 tỷ USD, tăng 23,7%; khu vực có vốn ĐTNN NK 290,23 tỷ USD, tăng tới 40,1%. Điểm đáng chú ý là trong cơ cấu NK, phần lớn hàng hóa là tư liệu sản xuất, đạt 372,04 tỷ USD, chiếm 94,1% tổng kim ngạch, trong đó: máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 57,6%; nguyên nhiên vật liệu chiếm 36,5%; hàng tiêu dùng chỉ chiếm 5,9%. Có thể thấy, nhiều mặt hàng NK quan trọng là máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, đáp ứng nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh và XK trong giai đoạn tới. Đặc biệt, NK điện tử, máy tính và linh kiện đạt tới 161,63 tỷ USD, tăng 68,3%; máy móc, thiết bị đạt 47,4 tỷ USD, tăng 22,1%.
Đáng chú ý, quy mô thương mại mở rộng nhanh trong tháng 8. Chỉ riêng trong tháng này, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt tới 109,7 tỷ USD, tăng 31,7% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu đạt 54,79 tỷ USD, trong khi nhập khẩu đạt 54,91 tỷ USD, dẫn đến cán cân thương mại tháng 8 chỉ nhập siêu nhẹ 0,12 tỷ USD.
Có thể thấy, khi sau 8 tháng, tổng kim ngạch XNK đã đạt 770,14 tỷ USD, việc cán mốc 1.200 tỷ USD theo kế hoạch là mục tiêu hoàn toàn khả thi (với mức bình quân 4 tháng cuối năm cần đạt khoảng 107,5 tỷ USD/tháng, thấp hơn mức của Tháng 8).
Về hiện tượng thâm hụt CCTM ở mức cao, giới chuyên gia cũng có nhiều ý kiến trái chiều. Có ý kiến cho rằng, điểm cần quan tâm nhất tập trung vào chất lượng của nhập siêu. NK máy móc, thiết bị và nguyên liệu để mở rộng năng lực sản xuất (chiếm gần 94% tổng kim ngạch NK) là cần thiết. Bên cạnh đó, giá NK thời gian qua cũng tăng đáng kể, dẫn đến khuếch đại kim ngạch NK. Đơn cử, giá hợp đồng DRAM và chip nhớ flash NAND từng tăng kỷ lục đến 60% trong quý II; sang quý III, giá chip nhớ dự kiến tăng 13-18%, còn mức chip nhớ flash NAND đắt thêm 10-15%, ... Bên cạnh đó, chi phí NK năng lượng chịu tác động đáng kể từ giá thế giới và diễn biến xung đột tại Trung Đông. Ngoài ra, các doanh nghiệp đang chủ động đẩy mạnh việc gom hàng và tích trữ nguyên liệu từ sớm để phòng ngừa rủi ro chuỗi cung ứng hoặc trước khi các chính sách thuế quốc tế thay đổi.
Cũng có ý kiến lạc quan cho rằng bức tranh thương mại Việt Nam đến cuối tháng 8 đang cho thấy những tín hiệu đảo chiều khi đà nhập siêu giảm tốc nhanh trong tháng 8 (từ mức 3,59 tỷ USD của tháng 7 xuống 0,12 tỷ của tháng 8), chỉ báo mở đường cho chu kỳ XK bùng nổ vào cuối năm.
Tuy nhiên, có ý kiến bắt đầu lo lắng khi đến cuối tháng 8, thâm hụt CCTM vẫn ở mức rất lớn. Tại hội nghị về thúc đẩy xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu ngày 13/08, Chính phủ đã yêu cầu Bộ Công Thương làm rõ nguyên nhân nhập siêu ở mức cao, nhất là khi XK của khu vực DN trong nước tăng chậm, trong khi NK nguyên liệu, máy móc, thiết bị tăng cao: DN NK nguyên liệu, máy móc, thiết bị để làm gì, tiến độ sản xuất ra sao và khả năng chuyển hóa lượng NK này thành sản phẩm, hàng hóa XK đến đâu, ... Bên cạnh đó, NK linh kiện với quy mô rất lớn trong khi giá trị gia tăng nội địa còn hạn chế cho thấy yêu cầu cấp thiết phải phát triển công nghiệp hỗ trợ để giảm phụ thuộc vào nguyên liệu và linh kiện NK.
Tóm lược thị trường trong nước từ 07/09 - 11/09/2026
Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 07/09 - 11/09, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh tăng – giảm đan xen. Chốt ngày 11/09, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.596 VND/USD, giảm 09 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. NHNN niêm yết tỷ giá mua giao ngay ở mức 24.367 VND/USD, cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn; tỷ giá bán giao ngay được niêm yết ở mức 26.825 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần.
Tỷ giá LNH trong tuần từ 07/09 - 11/09 tăng – giảm đan xen. Kết thúc phiên 11/09, tỷ giá LNH đóng cửa tại 25.920 VND/USD, giảm mạnh 155 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.
Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua diễn biến theo xu hướng giảm. Chốt phiên 11/09, tỷ giá tự do giảm 81 đồng ở chiều mua vào và 131 đồng ở chiều bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 25.890 VND/USD và 25.950 VND/USD.
Thị trường tiền tệ LNH: Tuần từ 07/09 - 11/09, lãi suất VND LNH giảm 4 phiên đầu tuần rồi tăng nhẹ trở lại. Chốt ngày 11/09, lãi suất VND LNH giao dịch ở mức: ON 3,30% (-1,30 đpt); 1W 4,05% (-1,10 đpt); 2W 4,20% (-2,30 đpt); 1M 5,50% (-0,80 đpt).
Lãi suất USD LNH tiếp tục biến động nhẹ, kết thúc phiên cuối tuần 11/09 giao dịch ở mức: ON 3,64% (-0,01 đpt); 1W 3,71 (+0,01 đpt); 2W 3,78% (+0,03 đpt) và 1M 3,85% (+0,05 đpt).
Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần qua từ 07/09 - 11/09, ở kênh cầm cố, NHNN chào thầu 66.000 tỷ đồng với các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày, 35 ngày và 91 ngày, lãi suất duy trì ở mức 4,5%. Kết quả có 47.259,02 tỷ đồng trúng thầu. Trong tuần có 80.259,67 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.
NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN trong tuần từ 07/09 - 11/09.
Như vậy, tuần qua, NHNN hút ròng 33.000,65 tỷ đồng từ thị trường qua kênh thị trường mở. Có 215.031,19 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.
Thị trường trái phiếu: Phiên 09/09, KBNN đấu thầu thành công 17.834 tỷ đồng/22.000 tỷ đồng TPCP gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu đạt 81%). Trong đó, kỳ hạn 5Y trúng thầu 7.000 tỷ đồng/8.000 tỷ đồng gọi thầu, 10Y trúng thầu 10.834 tỷ đồng/12.000 tỷ đồng gọi thầu. Kỳ hạn 3Y gọi thầu 500 tỷ đồng, 15Y 1.000 tỷ đồng và 30Y gọi thầu 500 tỷ đồng, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu ở cả 3 kỳ hạn. Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 5Y ở mức 4,26% (tăng 0,01 đpt so với phiên đấu thầu trước), 10Y 4,43% (tăng 0,02 đpt).
Ngày 16/09, KBNN dự kiến chào thầu 26.000 tỷ đồng TPCP, trong đó kỳ hạn 3Y chào thầu 500 tỷ đồng, kỳ hạn 5Y chào thầu 9.000 tỷ đồng, kỳ hạn 10Y chào thầu 15.000 tỷ đồng, kỳ hạn 15Y chào thầu 1.000 tỷ đồng và kỳ hạn 30Y chào thầu 500 tỷ đồng.
Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 17.992 tỷ đồng/phiên, giảm so với mức 18.927 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP trong tuần qua ít biến động. Chốt phiên 11/09, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1Y 3,53% (không thay đổi); 2Y 3,64% (không thay đổi); 3Y 3,7% (không thay đổi); 5Y 4,27% (không thay đổi); 7Y 4,33% (+0,01 đpt); 10Y 4,46% (+0,01 đpt); 15Y 4,58% (không thay đổi); 30Y 4,73% (không thay đổi).
Thị trường chứng khoán: Tuần từ 07/09 - 11/09, thị trường chứng khoán tiêu cực khi cả 3 chỉ số đều đỏ lửa ở hầu hết các phiên. Kết thúc phiên 11/09, VN-Index đứng ở mức 1.795,21 điểm, giảm mạnh 57,87 điểm (-3,12%) so với phiên cuối tuần trước đó; HNX-Index mất 9,85 điểm (-3,49%) còn 272,68 điểm, UPCom-Index lùi 1,39 điểm (-1,09%) về 126,55 điểm.
Thanh khoản thị trường trung bình đạt gần 12.600 tỷ đồng/phiên, giảm từ mức 16.500 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Khối ngoại bán ròng hơn 2.660 tỷ đồng trên cả 3 sàn.
Tin quốc tế
Nước Mỹ đón một số thông tin kinh tế đáng chú ý. Đầu tiên, Văn phòng Thống kê Mỹ công bố chỉ số giá sản xuất PPI toàn phần tại nước này tăng 0,4% m/m trong tháng 8, nối tiếp đà tăng 0,1% của tháng 7 và khớp với dự báo. PPI lõi trong tháng vừa qua tăng 0,2% m/m sau khi tăng 0,3% ở tháng 7, thấp hơn mức tăng 0,3% theo dự báo. So với cùng kỳ năm 2025, PPI toàn phần tăng 5,4% y/y, cao nhất trong vòng 12 tháng trở lại đây. Tiếp theo, chỉ số giá tiêu dùng CPI toàn phần tại Mỹ tăng 0,4% m/m trong tháng 8 sau khi tăng 0,1% ở tháng 7, khớp với dự báo của thị trường. CPI lõi trong tháng vừa qua tăng 0,3% m/m, nối tiếp đà tăng 0,2% của tháng 7 và cao hơn mức 0,2% theo dự báo. So với cùng kỳ năm 2025, CPI toàn phần và CPI lõi tháng 8 lần lượt tăng 3,4% và 2,4% y/y, không thay đổi nhiều so với mức tăng 3,4% và 2,5% của tháng 7 và đều khớp với dự báo. Các chỉ báo trên được cho rằng sẽ gây áp lực khiến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Fed phải tăng LSCS. Trong tuần này, thị trường chờ đợi các thông tin về cuộc họp của Fed, diễn ra trong 2 ngày 15-16/09. Kết quả cuộc họp được công bố vào sáng sớm ngày 17/09 theo giờ Việt Nam. Hiện tại, công cụ dự báo của CME cho thấy xác suất Fed tăng LSCS 25 đcb trong cuộc họp tháng 9 lên tới 86%, và chỉ có 14% khả năng giữ LSCS đi ngang ở mức 3,50% - 3,75%. Theo kịch bản chiếm ưu thế, Fed có thể tăng LSCS thêm một lần nữa trong tháng 12, đưa LSCS cuối năm nay lên mức 4,0% - 4,25%.
NHTW Châu Âu ECB nâng LSCS trong tháng 9. Trong phiên họp ngày 10/09, ECB cho rằng triển vọng kinh tế đang bất định với rủi ro lạm phát gia tăng và tăng trưởng GDP giảm. ECB cho biết các kịch bản đang trải rất rộng vì không chắc chắn cú sốc năng lượng có kéo dài hay không và tác động vòng 2 diễn ra như thế nào. ECB thấy rằng kinh tế Eurozone có khả năng chống chịu tốt hơn dự kiến trong những tháng vừa qua, kể cả sau khi LSCS được nâng lên vào tháng 6. Nguyên nhân chính đến từ lực đẩy đầu tư AI cũng như thu nhập của người lao động cải thiện. Trong cuộc họp lần này, ECB quyết định nâng bộ LSCS thêm 25 đcb, nhằm đạt được lạm phát mục tiêu ở mức 2,0% trong dài hạn, qua đó giúp tăng trưởng kinh tế bền vững. Sau cuộc họp, LS cho vay tái cấp vốn, LS cho vay cân biên và LS tiền gửi tại ECB lần lượt lên ở mức 2,65% 2,90% và 2,50%, có hiệu lực kể từ ngày 16/09. ECB khẳng định tiếp tục theo dõi sát diễn biến kinh tế và lạm phát để đưa ra CSTT phù hợp trong tương lai. Liên quan đến các chỉ báo kinh tế tại Eurozone, GDP khu vực này chính thức tăng 0,6% q/q trong quý 2, cao hơn so với mức tăng 0,4% theo ước tính ban đầu. So với cùng kỳ năm 2025, GDP Eurozone tăng khoảng 1,2% y/y. Tính chung Liên minh EU27, GDP lần lượt tăng 0,7% q/q và 1,4% y/y trong quý 2. Những con số trên là các mức tăng trưởng mạnh nhất mà Eurozone ghi nhận trong vòng 4 năm trở lại đây, phần nào cho thấy dấu hiệu kinh tế đang phục hồi và chống chịu tốt hơn trước những rủi ro địa chính trị và áp lực thương mại bởi Mỹ.
Tổng hợp Kinh tế - Tài chính tuần 07/09 - 11/09/2026