Tổng quan:
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã chính thức được nâng hạng trong Tháng 9, tuy nhiên vẫn chưa có bước đột phá diễn ra trên thị trường như kỳ vọng.
Sau thời điểm được FTSE Russell nâng hạng chính thức từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp, trái với kỳ vọng của nhiều nhà đầu tư, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn chưa có sự thay đổi đáng kể. Thậm chí, nhiều cổ phiếu tiếp tục sụt giảm và chỉ số VN-Index đang đi lùi. Đóng cửa phiên cuối tháng 9 (30/09), VN-Index giảm 0,51%, tương ứng giảm 9,11 điểm, xuống 1.768,62 điểm. So với ngay trước thời điểm được nâng hạng (ngày 18/09), VN-Index đã giảm hơn 47 điểm, tương ứng gần 2,6%. Số lượng cổ phiếu giảm giá chiếm đa số trên bảng giá điện tử. Sang đầu tháng 10, chỉ số vẫn tiếp tục giảm khi chỉ ở 7 phiên đầu tháng đến 09/10, VN-Index đã giảm hơn 33 điểm so với cuối tháng 9. Đáng chú ý, thanh khoản thị trường tháng 9 vẫn ở mức thấp, giảm 15,12% so với tháng 8 và giảm hơn một nửa so với giá trị giao dịch bình quân là 28.900 tỉ đồng/phiên của năm 2025.
Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, có các nguyên nhân chính sau đây khiến TTCK Việt Nam trầm lắng sau thăng hạng:
- Thứ nhất, tin tốt về việc TTCK Việt Nam được nâng hạng đã được hấp thụ vào giá trước khi chính thức được công bố. Từ một năm trước khi FTSE Russell bắt đầu công bố khả năng VN được nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp thì đã có những đợt tác động tích cực đến TTCK. Vì vậy khi việc nâng hạng chính thức thực hiện thì hầu như không còn nhiều tác động. Bên cạnh đó, FTSE triển khai việc đưa cổ phiếu Việt Nam vào các chỉ số theo bốn giai đoạn, bắt đầu với 10% trọng số trong tháng 9/2026 và nâng dần lên 100% vào tháng 9/2027. Quan trọng hơn, sự kiện nâng hạng giúp cải thiện tâm lý nhà đầu tư đối với triển vọng thị trường, có nghĩa thị trường sẽ còn nhiều thời điểm tái cơ cấu danh mục trong những tháng tới.
- Thứ hai, thanh khoản của thị trường đang ở mức thấp cho thấy nhiều dòng tiền vẫn đứng ngoài. Nguyên nhân chính dễ thấy là hiện nay do lãi suất tiết kiệm của các ngân hàng vẫn neo ở mức khá cao, từ 5,0 - 7,0%/năm, chưa kể các chương trình khuyến mại khiến LS lên tới 8,0 – 9,0%, hút vốn mạnh từ người dân. Bên cạnh đó, vốn cho vay ra có LS từ 10 - 12%/năm khiến nhiều DN gia tăng huy động từ các cổ đông lớn. Dòng tiền giao dịch trên TTCK bị co lại, trong tình hình lãi suất ở mức cao thì NĐT có tâm lý phòng thủ, bảo toàn vốn nhiều hơn là giải ngân đầu tư vào chứng khoán vốn được xem là kênh đầu tư rủi ro cao.
- Trên thế giới, khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) và các NHTW lớn khác tăng LSCS và có nhiều dự báo cho rằng các cơ quan này sẽ còn tiếp tục nâng LS từ nay đến cuối năm, xu hướng rút ròng của NĐT nước ngoài ở nhiều thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam, tiếp tục diễn ra. Theo thống kê, từ đầu năm đến thời điểm tháng 9/2026, NĐTNN đã rút ròng hơn 120 tỷ USD khỏi Hàn Quốc, hơn 36 tỷ USD khỏi Đài Loan và hơn 25 tỷ USD tại Ấn Độ, khoảng 3,6 tỷ USD từ Việt Nam, ... Ngoài ra, trên TTCK thế giới, 10 cổ phiếu AI lớn nhất hiện chiếm khoảng 41% tổng giá trị TTCK Mỹ, tương đương mức độ tập trung của nhóm cổ phiếu công nghệ vào thời kỳ đỉnh bong bóng Dot-Com năm 2000. Các quỹ đầu tư trên toàn cầu đang điều chỉnh chiến lược theo xu hướng này. Trong khi đó, TTCK VN vẫn còn thiếu các cổ phiếu công nghệ, AI, chưa thể đủ sức hấp dẫn để thu hút mạnh dòng vốn ngoại.
- Về bản thân TTCK Việt Nam, để chuyển sự quan tâm nhờ thăng hạng thành dòng vốn thực chất và bền vững, thị trường cần tiếp tục cải thiện khả năng tiếp cận, nâng chất lượng hàng hóa, tăng tính minh bạch và chất lượng quản trị doanh nghiệp.
Từ nay đến cuối năm, các chuyên gia cho rằng, TTCK Việt Nam sẽ quay lại những yếu tố cơ bản như lãi suất, kết quả kinh doanh quý III, định giá và triển vọng từng ngành để đánh giá thị trường và duy trì đà tăng trưởng, trong khi tác động từ việc nâng hạng sẽ cần thêm thời gian để phản ánh vào dòng tiền và mặt bằng định giá. Về dài hạn, Việt Nam còn phải chứng minh khả năng tiếp nhận dòng vốn, duy trì thanh khoản, cải thiện chất lượng doanh nghiệp niêm yết và tiếp tục tháo gỡ những rào cản mà NĐTNN gặp phải để trở thành điểm đến hấp dẫn.
Cụ thể, Việt Nam cần có thêm những doanh nghiệp quy mô lớn trong ngành nghề chiến lược với mục tiêu khoảng 15-20 DN đạt vốn hóa trên 2,5-3 tỷ USD và thanh khoản bình quân ngày khoảng 15-20 triệu USD mỗi mã. Ở quy mô toàn thị trường, để tăng nguồn cung, Việt Nam cần đặt mục tiêu vốn hóa tăng từ khoảng 65-70% GDP hiện nay lên 100-120% GDP trong giai đoạn 2026-2030, cùng thanh khoản khoảng 1,5-2 tỷ USD mỗi phiên.
Tóm lược thị trường trong nước từ 05/10 - 09/10/2026
Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 05/10 - 09/10, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh tăng 2 phiên đầu tuần rồi giảm trở lại. Chốt ngày 09/10, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.629 VND/USD, giảm 07 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. NHNN niêm yết tỷ giá mua giao ngay ở mức 24.398 VND/USD, cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn; tỷ giá bán giao ngay được niêm yết ở mức 26.860 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần.
Tỷ giá LNH trong tuần từ 05/10 - 09/10 tăng 2 phiên đầu tuần rồi giảm trở lại. Kết thúc phiên 09/10, tỷ giá LNH đóng cửa tại 25.880 VND/USD, giảm mạnh 103 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.
Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua dao động theo xu hướng tăng. Chốt phiên 09/10, tỷ giá tự do tăng 120 đồng ở chiều mua vào và 130 đồng ở chiều bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 26.060 VND/USD và 26.170 VND/USD.
Thị trường tiền tệ LNH: Tuần từ 05/10 - 09/10, lãi suất VND LNH biến động mạnh ở tất cả các kỳ hạn từ 1M trở xuống, đặc biệt kỳ hạn ON. Chốt ngày 09/10, lãi suất VND LNH giao dịch ở mức: ON 4,50% (+1,70 đpt); 1W 5,15% (+1,65 đpt); 2W 4,00% (-1,00 đpt); 1M 5,20% (-1,10 đpt).
Lãi suất USD LNH biến động nhẹ ở tất cả các kỳ hạn, kết thúc phiên cuối tuần 09/10 giao dịch ở mức: ON 3,85% (không thay đổi); 1W 3,89 (không thay đổi); 2W 3,92% (-0,01 đpt) và 1M 4,01% (-0,02 đpt).
Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần qua từ 05/10 - 09/10, ở kênh cầm cố, NHNN chào thầu 30.000 tỷ đồng với các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày, 35 ngày và 91 ngày, lãi suất duy trì ở mức 4,5%. Kết quả, có 10.081,46 tỷ đồng trúng thầu. Trong tuần có 46.679,04 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.
NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN trong tuần từ 05/10 - 09/10.
Như vậy, tuần qua, NHNN hút ròng 36.597,58 tỷ đồng từ thị trường qua kênh thị trường mở. Có 96.744,35 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.
Thị trường trái phiếu: Phiên 07/10, KBNN đấu thầu thành công 19.500 tỷ đồng/21.500 tỷ đồng TPCP gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu đạt 91%). Trong đó, kỳ hạn 5Y trúng thầu toàn bộ 7.500 tỷ đồng gọi thầu, 10Y trúng thầu toàn bộ 12.000 tỷ đồng gọi thầu. Kỳ hạn 3Y gọi thầu 500 tỷ đồng, 15Y 1.000 tỷ đồng, 30Y 500 tỷ đồng, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu ở cả 3 kỳ hạn. Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 5Y ở mức 4,27%, 10Y 4,43% (đều không thay đổi so với phiên đấu thầu trước).
Ngày 14/10, KBNN dự kiến chào thầu 17.000 tỷ đồng TPCP, trong đó kỳ hạn 3Y chào thầu 500 tỷ đồng, kỳ hạn 5Y chào thầu 6.000 tỷ đồng, kỳ hạn 10Y 9.000 tỷ đồng, kỳ hạn 15Y 1.000 tỷ đồng và kỳ hạn 30Y chào thầu 500 tỷ đồng.
Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 18.897 tỷ đồng/phiên, giảm khá mạnh so với mức 24.485 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP trong tuần qua ít biến động. Chốt phiên 9/10, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1Y 3,54% (không thay đổi); 2Y 3,64% (không thay đổi); 3Y 3,72% (không thay đổi); 5Y 4,29% (-0,01đpt); 7Y 4,34% (-0,001 đpt); 10Y 4,47% (-0,003 đpt); 15Y 4,57% (-0,01 đpt); 30Y 4,73% (không thay đổi).
Thị trường chứng khoán: Tuần từ 05/10 - 09/10, thị trường chứng khoán tăng ở 2 phiên đầu tuần rồi giảm ở 3 phiên còn lại. Kết thúc phiên 09/10, VN-Index đứng ở mức 1.735,09 điểm, giảm nhẹ 2,62 điểm (-0,15%) so với phiên cuối tuần trước đó; HNX-Index mất 5,15 điểm (-1,93%) còn 261,60 điểm, UPCom-Index giảm 1,69 điểm (-1,34%) về 124,24 điểm.
Thanh khoản thị trường trung bình đạt trên 13.200 tỷ đồng/phiên, tăng nhẹ từ mức 12.600 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Khối ngoại bán ròng gần mạnh gần 13.500 tỷ đồng trên cả 3 sàn.
Tin quốc tế
Biên bản cuộc họp CSTT ngày 15-16/09 của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Fed công bố ngày 07/10 cho thấy, các nhà hoạch định chính sách vẫn nghiêng về lập trường thận trọng với lạm phát. Tất cả các thành viên tham gia cuộc họp đều ủng hộ việc tăng lãi suất thêm 25 đcb, đưa LSCS lên khoảng 3,75-4,00%. Hầu hết các thành viên cũng đánh giá rằng việc tăng LS thêm một lần nữa vào cuối năm có thể phù hợp. Liên quan đến thông tin kinh tế Mỹ, trên thị trường lao động, số đơn trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại Mỹ tuần kết thúc ngày 03/10 là 197.000 đơn, giảm 2.000 so với tuần trước đó và thấp hơn dự báo 200 nghìn đơn. Đây là mức gần thấp nhất 57 năm, cho thấy các doanh nghiệp đang cố gắng giữ chân nhân sự cũ, khiến người tìm việc mới gặp khó khăn hơn. Về dịch vụ, theo kết quả khảo sát của Viện Quản lý cung ứng ISM của Mỹ, chỉ số PMI lĩnh vực dịch vụ nước này chỉ đạt mức 54,9% trong tháng 9, thấp hơn mức 55,4% của tháng 8, đồng thời cũng thấp hơn dự báo của thị trường ở mức 55,1%. Tuy nhiên, đây là tháng thứ 27 liên tiếp chỉ số này ở trên mức tăng trưởng. Niềm tin tiêu dùng sơ bộ do Đại học Michigan UoM khảo sát chỉ đạt 46,3 điểm trong tháng 10, giảm khá sâu từ mức 48,1 điểm tháng 9 và thấp hơn dự báo đạt 47,5 điểm. Về thương mại, thâm hụt CCTM Mỹ tháng 8 là 105,6 tỷ USD, tăng 13,8% so với mức thâm hụt 92,8 tỷ USD của tháng 7. Đây là mức cao nhất kể từ đầu năm 2025. Tháng 8, kim ngạch NK đạt 420,8 tỷ USD, tăng 4,3% m/m, XK đạt 315,2 tỷ USD, tăng 1,4%. Thực tế cho thấy, các nhà NK phải xoay xở với đợt thuế quan mới của Tổng thống Trump đồng thời tiếp tục NK lượng lớn linh kiện trị giá hàng tỷ USD phục vụ các trung tâm dữ liệu AI. Từ các dữ liệu kinh tế, các chuyên gia nhận định, vì lạm phát vẫn là mối đe dọa lớn, thị trường lao động vẫn "đủ khỏe", Fed có dư địa và khả năng sẽ tăng thêm 25 đcb vào cuối năm nếu lạm phát không hạ nhiệt vững chắc về mức mục tiêu 2%.
Kinh tế Eurozone nói chung và Đức nói riêng đón nhận nhiều thông tin kinh tế quan trọng trong tuần qua. Theo báo của của S&P Global, chỉ số PMI lĩnh vực dịch vụ chính thức của Eurozone và Đức tháng 9 lần lượt ở mức 53,0 điểm và 52,9 điểm, không thay đổi so với kết quả sơ bộ cũng là dự báo của thị trường, cao hơn mức 51,6 và 47,9 điểm của tháng 8. Tại Eurozone, hoạt động kinh doanh của khu vực tư nhân đã tăng trưởng với tốc độ nhanh nhất trong gần ba năm rưỡi nhờ nhu cầu cải thiện và việc làm tăng. Tuy nhiên, triển vọng vẫn ở mức tương đối khiêm tốn trong bối cảnh áp lực lạm phát gia tăng. Tại Đức, lĩnh vực dịch vụ của nước này ghi nhận sự tăng trưởng vững chắc về hoạt động kinh doanh trong tháng 9, nhờ vào sự phục hồi liên tục của nhu cầu. Tại nền kinh tế lớn nhất EZ, sản lượng công nghiệp tháng 8 nước này tăng 2,0% m/m sau khi giảm 1,2% ở tháng trước đó và cao hơn dự báo ở mức tăng 0,5%. So với tháng 8/2025, sản lượng trong tháng 8/2026 tăng 2,3%. Cán cân thương mại hàng hóa của Đức thặng dư 19,5 tỷ EUR trong tháng 8, giảm so với mức thặng dư 21,3 tỷ của tháng 7 nhưng cao hơn dự báo ở mức 19,0 tỷ. Trong đó, xuất khẩu đạt 137,6 tỷ EUR, giảm 0,8% m/m và nhập khẩu đạt 118,1 tỷ, tăng 0,9%. So với tháng 8/2025, XK tăng 6,2% và NK tăng 5,5%. Đáng chú ý, XK sang Mỹ tháng 8 lao dốc tới 6,3% m/m, Mỹ hiện là đối tác thương mại lớn nhất ngoài EU của Đức, nên việc nhu cầu tại đây suy yếu đã kéo tụt toàn bộ kim ngạch XK. Về sản xuất, số lượng đơn đặt hàng nhà máy mới tại Đức tháng 8 giảm mạnh 10,6% m/m, sâu hơn nhiều so với mức tăng 3,2% của tháng 7 và dự báo giảm 0,9%. Sự sụt giảm này chủ yếu do mức giảm 61,5% ở hạng mục thiết bị vận tải khác do trước đó đã tăng hơn gấp đôi trong tháng 7 nhờ khối lượng đơn hàng quy mô lớn đặc biệt cao đối với tàu thuyền, toa xe đường sắt và máy bay.