Tổng quan:
Kết luận số 106-KL/TW ngày 15/10/2026 về tình hình phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện NSNN năm 2026, kế hoạch năm 2027.
Trong những tháng cuối năm 2026, phấn đấu đạt cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu năm 2026, nhất là tăng trưởng 2 con số, kiểm soát lạm phát khoảng 4,5%. Hoàn thành các nhiệm vụ năm 2026. Điều hành đồng bộ chính sách tài khóa, tiền tệ; bảo đảm nguồn cung điện, xăng dầu; đẩy nhanh các dự án hạ tầng chiến lược. Đẩy mạnh kích cầu tiêu dùng, du lịch cuối năm gắn với bình ổn giá; thúc đẩy xuất khẩu. Các địa phương chưa đạt kịch bản tăng trưởng phải quyết liệt hơn; các cực tăng trưởng lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đồng Nai, Bắc Ninh, ... cần đóng góp nhiều hơn. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật, ban hành đúng hạn văn bản quy định chi tiết; rà soát, cắt giảm tối đa các khâu trung gian trong phân phối xăng dầu, cung ứng điện, phát hành sách giáo khoa, thuốc và thiết bị y tế; phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch đầu tư công; tháo gỡ các dự án tồn đọng; DNNN hoàn thành kế hoạch đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
Về định hướng và mục tiêu chủ yếu năm 2027: Lấy năm 2027 làm năm tăng tốc, bứt phá với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; lấy hiệu quả thực chất, năng suất và đời sống nhân dân làm thước đo. Mục tiêu, chỉ tiêu chính năm 2027 cụ thể như sau:
- Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước GDP: ≥10,0%;
- GDP bình quân đầu người: khoảng 6.100 USD;
- Tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp IIP: 11,5-12,5%;
- Tỷ lệ nội địa hóa một số ngành công nghiệp chủ lực: 40-42%;
- Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng CPI: khoảng 4,5%;
- Tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng: 14%;
- Tăng trưởng giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa: 15%;
- Tăng trưởng giá trị kim ngạch nhập khẩu hàng hóa: 12%;
- Số lượt khách quốc tế đến Việt Nam: 28-29 triệu lượt khách; …
Các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu như sau:
1. Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Cụ thể hóa mục tiêu tăng trưởng thành kịch bản, chỉ tiêu, nhiệm vụ, sản phẩm theo từng ngành, lĩnh vực, địa phương và thường xuyên cập nhật kịp thời, có giải pháp phù hợp. Phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác.
2. Tạo đột phá trong huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, trong đó: Tập trung phấn đấu tăng thu NSNN khoảng 9,1% so với thực hiện năm 2026 và tiết kiệm chi, nhất là chi thường xuyên; phát hành các loại hình trái phiếu (chính phủ, địa phương, doanh nghiệp, công trình); vay ODA; huy động nguồn vốn tín dụng; tăng đầu tư từ các doanh nghiệp nhà nước, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, minh bạch để đẩy mạnh thu hút đầu tư tư nhân; có các giải pháp cụ thể khuyến khích doanh nghiệp FDI sử dụng các nguồn vốn, lợi nhuận chưa chuyển về nước để tái đầu tư tại Việt Nam; sớm triển khai chính sách mở rộng tỉ lệ sở hữu nước ngoài trong các ngành, nghề không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia; phát triển thị trường vốn trung và dài hạn hiện đại. Phấn đấu nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia; thu hút các quỹ đầu tư quốc tế, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài dài hạn, ổn định …
3. Điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với tình hình trong nước và quốc tế; giảm lãi suất cho vay, hướng tín dụng vào sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên; kiểm soát tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính-NSNN; bảo đảm an ninh tài chính; mở rộng cơ sở thu, chống thất thu, chống chuyển giá. Tiếp tục rà soát, đơn giản hóa quy trình, thủ tục đầu tư. Đẩy mạnh giải ngân ĐTC gắn với hiệu quả các dự án, công trình; phân bổ vốn theo kết quả đầu ra. Có giải pháp khả thi cải thiện chỉ số ICOR. Kiên quyết điều chuyển vốn từ nơi giải ngân thấp sang nơi giải ngân tốt.
4. Phát huy, làm mới các động lực truyền thống; phát triển thị trường trong nước; kích cầu, phát triển thương mại hiện đại, kinh tế ban đêm; đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu gắn với nâng cao giá trị gia tăng, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu; giảm phụ thuộc vào một số ít thị trường; xử lý kịp thời các vấn đề thương mại, thuế quan. Có giải pháp hiệu quả để xử lý nhập siêu. Phát triển lành mạnh, an toàn, bền vững thị trường bất động sản và các thị trường khác. Xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài. Bảo đảm an ninh năng lượng, cung ứng đủ điện, xăng dầu trong mọi tình huống …
Như được biết, Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI chính thức khai mạc vào ngày 17/10/2026 và dự kiến bế mạc vào ngày 21/11/2026. Nội dung chương trình dự kiến: xem xét, thông qua 43 dự án luật, nghị quyết và cho ý kiến đối với một số dự án luật khác; xem xét, quyết định 10 nhóm nội dung về KT-XH, NSNN năm 2027, kế hoạch đầu tư công, cùng hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn.
Tóm lược thị trường trong nước từ 12/10 - 16/10/2026
Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 12/10 - 16/10, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh tăng – giảm đan xen qua các phiên. Chốt ngày 16/10, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.637 VND/USD, tăng 08 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. NHNN niêm yết tỷ giá mua giao ngay ở mức 24.406 VND/USD, cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn; tỷ giá bán giao ngay được niêm yết ở mức 26.868 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần.
Tỷ giá LNH trong tuần từ 12/10 - 16/10 cũng tăng – giảm đan xen. Kết thúc phiên 16/10, tỷ giá LNH đóng cửa tại 25.893 VND/USD, tăng 13 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.
Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua ít biến động. Chốt phiên 16/10, tỷ giá tự do giảm 40 đồng ở chiều mua vào và 50 đồng ở chiều bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 26.020 VND/USD và 26.120 VND/USD.
Thị trường tiền tệ LNH: Tuần từ 12/10 - 16/10, lãi suất VND LNH biến động tăng – giảm mạnh qua các phiên ở tất cả các kỳ hạn từ 1M trở xuống. Chốt ngày 16/10, lãi suất VND LNH giao dịch ở mức: ON 4,50% (không thay đổi); 1W 4,60% (-0,55 đpt); 2W 4,70% (+0,70 đpt); 1M 5,50% (+0,30 đpt).
Lãi suất USD LNH biến động nhẹ ở tất cả các kỳ hạn, kết thúc phiên cuối tuần 16/10 giao dịch ở mức: ON 3,85% (không thay đổi); 1W 3,89 (không thay đổi); 2W 3,91% (-0,01 đpt) và 1M 4,01% (không thay đổi).
Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần qua từ 12/10 - 16/10, ở kênh cầm cố, NHNN chào thầu 34.000 tỷ đồng với các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày, 35 ngày và 91 ngày, lãi suất duy trì ở mức 4,5%. Kết quả, có 17.281,85 tỷ đồng trúng thầu. Trong tuần có 9.093,22 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.
NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN trong tuần từ 12/10 - 16/10.
Như vậy, tuần qua, NHNN bơm ròng 8.188,63 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở. Có 104.932,98 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.
Thị trường trái phiếu: Phiên 14/10, KBNN đấu thầu thành công 11.452 tỷ đồng/18.000 tỷ đồng TPCP gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu đạt 64%). Trong đó, kỳ hạn 3Y trúng thầu 200/500 tỷ đồng gọi thầu, 5Y trúng thầu 6.839/7.000 tỷ đồng gọi thầu, 10Y trúng thầu 4.413/9.000 tỷ đồng gọi thầu. Kỳ hạn 15Y 1.000 tỷ đồng, 30Y 500 tỷ đồng, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu ở cả 2 kỳ hạn. Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 3Y ở mức 3,55%, 5Y ở mức 4,27%, 10Y 4,43% (đều không đổi so với phiên đấu thầu trước).
Ngày 21/10, KBNN dự kiến chào thầu 17.000 tỷ đồng TPCP, trong đó kỳ hạn 3Y chào thầu 500 tỷ đồng, kỳ hạn 5Y chào thầu 6.000 tỷ đồng, kỳ hạn 10Y 9.000 tỷ đồng, kỳ hạn 15Y 1.000 tỷ đồng và kỳ hạn 30Y chào thầu 500 tỷ đồng.
Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 24.790 tỷ đồng/phiên, tăng mạnh so với mức 18.897 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP chốt tuần qua ít biến động, chốt tuần gần như không thay đổi so với phiên cuối tuần trước đó ở tất cả các kỳ hạn. Chốt phiên 16/10, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1Y 3,54%; 2Y 3,64%; 3Y 3,72%; 5Y 4,28%; 7Y 4,34%; 10Y 4,47%; 15Y 4,57%; 30Y 4,73%.
Thị trường chứng khoán: Tuần từ 12/10 - 16/10, thị trường chứng khoán khá tiêu cực khi các chỉ số chính giảm điểm ở hầu hết các phiên. Kết thúc phiên 16/10, VN-Index đứng ở mức 1.705,91 điểm, giảm manh 29,18 điểm (-1,68%) so với phiên cuối tuần trước đó; HNX-Index mất 2,47 điểm (-0,94%) còn 259,13 điểm, UPCom-Index tăng 0,63 điểm (+0,51%) lên 124,87 điểm.
Thanh khoản thị trường trung bình đạt gần 12.200 tỷ đồng/phiên, giảm nhẹ từ mức 13.200 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Khối ngoại bán ròng mạnh hơn 2.500 tỷ đồng trên cả 3 sàn.
Tin quốc tế
Hội nghị thường niên IMF và WB năm 2026 tại Bangkok là sự kiện đáng chú ý trong tuần qua. Hội nghị trường niên năm 2026 tại Bangkok (12–18/10/2026) tập trung vào thông điệp chuyển từ tăng sức chống chịu sang phát triển nội sinh từ vốn và công nghệ toàn cầu. Các nội dung chính bao gồm: Chiến lược và tăng trưởng: tận dụng tái cấu trúc toàn cầu để nâng cao năng suất; thách thức lao động và công nghệ: cảnh báo thiếu hụt việc làm cho thanh niên toàn cầu trong thập kỷ tới và nhu cầu quản lý an toàn rủi ro từ AI; cam kết tài chính: WB huy động kỷ lục 112 tỷ USD vốn tư nhân (tổng tài trợ 230 tỷ USD) và 19 tỷ USD cho khoáng sản thiết yếu; tín dụng IMF đạt 240 tỷ USD. Trước đó, tại báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới được Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF công bố, tăng trưởng kinh tế toàn cầu 2026 được IMF dự báo sẽ chậm lại ở mức 3,1% trong năm nay (giảm từ 3,5% năm 2025), nhưng vẫn khả quan hơn mức dự báo 3% mà IMF đưa ra hồi tháng 7, nhờ vào đầu tư cho AI và các biện pháp hỗ trợ tài khóa. Đối với năm 2027, tổ chức này giữ nguyên dự báo ở mức 3,4%. Lạm phát được dự báo tăng lên 4,7% trong năm 2026 do chi phí năng lượng leo thang và sự bùng nổ đầu tư vào AI, sau đó sẽ hạ nhiệt xuống còn 4,1% vào năm 2027. Cụ thể với từng quốc gia, Mỹ được dự báo sẽ tăng trưởng 2,3% trong cả 2 năm 2026 và 2027, Eurozone chỉ đạt mức tăng trưởng khiêm tốn 1,1% trong năm nay do chi phí năng lượng tăng cao và niềm tin người tiêu dùng suy yếu. Khu vực Trung Đông và Trung Á dự kiến sẽ suy giảm 0,3% trong năm nay; tăng trưởng Trung Quốc được dự báo tăng lên 4,5% trong năm 2026 và 4,0% vào năm 2027; đối với Ấn Độ, mức dự báo là 7,0% cho cả năm 2026 và 2027.
Nước Mỹ đón nhiều thông tin kinh tế quan trọng trong tuần qua. Chỉ số giá tiêu dùng CPI nước này tăng 0,6% m/m và tăng mạnh 3,7% y/y trong tháng 9, đều lần lượt tăng hơn mức 0,4% và 3,4% tháng trước đó và dự báo ở mức 0,6% và 3,6%. Giá xăng dầu là yếu tố chính thúc đẩy mức tăng này, với giá xăng tăng 9,1% m/m. CPI lõi (không bao gồm giá thực phẩm và năng lượng) cũng tăng cao hơn dự kiến với mức 2,6% y/y, cao hơn so với mức 2,4% ghi nhận trong tháng 8 và mức 2,5% dự báo. Xét theo tháng, lạm phát lõi vẫn giữ nguyên ở mức 0,3% m/m như mức tăng của tháng 8, cao hơn kỳ vọng ở mức 0,2%. Chỉ số giá sản xuất PPI tháng 9/2026 của Mỹ tăng 1,3% m/m và 6,5% y/y, ghi nhận mức tăng theo tháng mạnh nhất trong hơn 3 năm qua. Nguyên nhân chính là do chi phí năng lượng và giá nhiên liệu leo thang mạnh (do căng thẳng địa chính trị ở Trung Đông và Nga - Ukraine), cùng với việc chi phí sản xuất cơ bản lan rộng hơn vào các nhóm hàng hóa khác. Trên thị trường bán lẻ, doanh số bán lẻ toàn phần của Mỹ tháng 9 tăng 0,8% m/m, tuy thấp hơn mức tăng 1,3% của tháng 8 nhưng vượt mức dự báo 0,3% của các nhà kinh tế. Trên thị trường lao động, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại Mỹ tuần kết thúc ngày 10/10 tăng nhẹ 1.000 đơn so với tuần trước đó, đạt 199.000 đơn, bằng với dự báo. Có thể thấy, áp lực lạm phát từ phía nhà SX rất nóng, được đánh giá là tiêu cực hơn cả số liệu CPI, đe dọa đẩy chi phí tiếp tục chuyển sang người tiêu dùng trong các tháng tới. Tuy nhiên, người tiêu dùng Mỹ vẫn duy trì được chi tiêu nhờ thị trường lao động ổn định và thị trường chứng khoán khả quan, nhưng giá nhiên liệu cao đang buộc hộ gia đình phải thắt chặt chi tiêu các mặt hàng không thiết yếu khác. Mặc dù các số liệu chỉ số giá tăng cao của tháng 9 của Mỹ làm tăng khả năng Fed nâng LSCS trong kỳ họp cuối tháng 10, tuy nhiên, phát biểu tại một cuộc thảo luận trong khuôn khổ Hội nghị thường niên của IMF sáng 16/10, Chủ tịch Fed Kevin Warsh gây bất ngờ khi gần như không đề cập đến triển vọng CSTT hay tình hình kinh tế Mỹ, khiến thị trường dự báo NHTƯ này chưa thấy cần vội vàng hành động trong cuộc họp cuối tháng này.
Tổng hợp Kinh tế - Tài chính tuần 12/10 - 16/10/2026