Bản tin Kinh tế - Tài chính ngày 15/12/2023

07:42 15/12/2023

Tin trong nước:

Thị trường ngoại tệ: Phiên 14/12, NHNN niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.945 VND/USD, giảm 09 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá mua giao ngay được giữ nguyên niêm yết ở mức 23.400 VND/USD; tỷ giá bán giao ngay được niêm yết ở mức 25.092 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá. Trên thị trường LNH, tỷ giá chốt phiên với mức 24.251 VND/USD, giảm 24 đồng so với phiên 13/12. Tỷ giá trên thị trường tự do giảm mạnh 90 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, giao dịch tại 24.550 VND/USD và 24.650 VND/USD.

Thị trường tiền tệ LNH: Ngày 14/12, lãi suất chào bình quân LNH VND đi ngang ở kỳ hạn ON trong khi tăng 0,01 đpt ở kỳ hạn 1W và giảm 0,02 đpt ở các kỳ hạn 2W và 1M so với phiên trước đó, cụ thể: ON 0,20%; 1W 0,34%; 2W 0,55% và 1M 1,20%. Lãi suất chào bình quân LNH USD giảm 0,01 – 0,03 đpt ở tất cả các kỳ hạn từ 1M trở xuống; giao dịch tại: ON 5,03%; 1W 5,12%; 2W 5,23%, 1M 5,33%. Lợi suất TPCP trên thị trường thứ cấp giảm ở tất cả các kỳ hạn; chốt phiên ở mức: 3Y 1,60%; 5Y 1,53%; 7Y 1,93%; 10Y 2,24%; 15Y 2,43%.

Nghiệp vụ thị trường mở: Hôm qua, trên kênh cầm cố, NHNN chào thầu 1.000 tỷ đồng với kỳ hạn 07 ngày, lãi suất giữ ở mức 4,0%. Không có khối lượng trúng thầu, không có khối lượng lưu hành trên kênh này. NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN và cũng không có khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường.

Thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán phiên hôm qua giao dịch trong trạng thái giằng co. Chốt phiên, VN-Index giảm 4,07 điểm (-0,37%) về mức 1.110,13 điểm; HNX-Index mất 1,19 điểm (-0,52%) còn 227,23 điểm; UPCoM-Index tăng 0,13 điểm (+0,15%) lên 85,22 điểm. Thanh khoản thị trường sụt giảm với giá trị giao dịch gần 16.600 tỷ đồng. Khối ngoại bán ròng hơn 312 tỷ đồng trên cả 3 sàn.

Liên bộ Công Thương - Tài chính vừa điều chỉnh giá xăng dầu từ ngày 14/12. Theo đó, giá xăng E5RON92 giảm 778 đồng/lít, không cao hơn 20.512 đồng/lít so với trước đó; xăng RON95-III giảm 917 đồng/lít, không cao hơn 21.405 đồng/lít. Giá dầu điêzen 0.05S không cao hơn 19.010 đồng/lít (giảm 711 đồng/lít); dầu hỏa không cao hơn 19.964 đồng/lít (giảm 958 đồng/lít); dầu madút 180CST 3.5S không cao hơn 14.978 đồng/kg (giảm 549 đồng/kg).

Tin quốc tế:

NHTW Châu Âu ECB không thay đổi LSCS trong cuộc họp cuối năm. Trong cuộc họp ngày hôm qua, ECB ước tính GDP khu vực Eurozone tăng 0,6% trong năm 2023 (-0,1 đpt so dự báo hồi tháng 11) và 1,0% trong năm 2024 (-0,2 đpt). Theo ECB, các đợt tăng LSCS trong thời gian qua đang tiếp tục ảnh hưởng tới nền kinh tế và đẩy áp lực lạm phát đi xuống. ECB quyết tâm đưa lạm phát quay trở lại mức mục tiêu 2,0% trong trung hạn, và nhận định LSCS đang ở mức mà nếu duy trì trong thời gian đủ dài sẽ đóng góp đáng kể cho quá trình thực hiện mục tiêu trên. Theo đó, ECB không thay đổi LSCS trong cuộc họp này. LS tái cấp vốn, LS cho vay cận biên và LS tiền gửi tại ECB lần lượt ở mức 4,5% 4,75% và 4,0%. ECB khẳng định sẽ tiếp tục điều hành dựa trên dữ liệu kinh tế, lạm phát để đưa ra những chính sách hợp lý trong tương lai.

NHTW Anh BOE giữ LSCS đi ngang trong tháng 12. Trong văn bản sau cuộc họp, Ủy ban CSTT của BOE (MPC) khẳng định mục tiêu đưa lạm phát về ngưỡng mục tiêu 2,0%, đồng thời hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và thị trường lao động. 6/9 thành viên của MPC bỏ phiếu duy trì LSCS ở mức hiện tại, và 3 thành viên khác cho rằng cần tăng LSCS thêm 25 đcb. Theo đó, LSCS của BOE được duy trì ở mức 5,25%, không thay đổi so với trước đây. MPC đồng thời dự báo lạm phát sẽ quay trở lại mục tiêu 2,0% vào năm 2025 và sau đó tiếp tục giảm xuống dưới mức này. CPI trung bình sẽ dao động trong khoảng 1,9% đến 2,2% trong dài hạn. LSCS có thể được MPC duy trì ở 5,25% cho tới Q3/2024, sau đó giảm dần xuống còn 4,25% vào cuối năm 2026. MPC cảnh báo sẽ tiếp tục theo dõi dữ liệu kinh tế và không loại trừ khả năng thắt chặt CSTT hơn nữa nếu có bằng chứng cho thấy áp lực lạm phát dai dẳng hơn.

Úc đón một số thông tin quan trọng về thị trường lao động. Văn phòng Thống kê Úc cho biết quốc gia này tạo ra thêm 61,5 nghìn việc làm trong tháng 11, cao hơn so với mức 42,7 nghìn của tháng 10 và đồng thời cao hơn mức 10,6 nghìn theo dự báo. Tỷ lệ thất nghiệp tại Úc trong tháng vừa qua tăng lên 3,9%, trái với dự báo tiếp tục đi ngang ở mức 3,8% theo kết quả thống kê tháng 10, vẫn ở quanh mức thấp nhất trong 40 năm.

Bản tin Kinh tế - Tài chính ngày 15/12/2023

Cùng chuyên mục