Tin trong nước:
Thị trường ngoại tệ: Phiên 19/01, NHNN niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 25.132 VND/USD, tăng nhẹ 01 đồng so với phiên cuối tuần trước. Tỷ giá mua giao ngay được niêm yết ở mức 23.926 VND/USD, cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn. Tỷ giá bán giao ngay được niêm yết ở mức 26.338 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần. Trên thị trường LNH, tỷ giá chốt phiên với mức 26.265 VND/USD, giảm 11 đồng so với phiên 16/01. Tỷ giá trên thị trường tự do tăng mạnh 250 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, giao dịch tại 26.500 VND/USD và 26.550 VND/USD.
Thị trường tiền tệ LNH: Ngày 19/01, lãi suất chào bình quân LNH VND giảm 0,15 – 0,40 đpt ở hầu hết các kỳ hạn từ 1M trở xuống ngoại trừ đi ngang ở kỳ hạn 1W so với phiên cuối tuần trước, giao dịch tại: ON 3,40%; 1W 4,60%; 2W 5,30% và 1M 6,40%. Lãi suất chào bình quân LNH USD giảm 0,01 – 0,05 đpt ở hầu hết các kỳ hạn, ngoại trừ giữ nguyên ở kỳ hạn 2W; giao dịch tại: ON 3,64%; 1W 3,69%; 2W 3,74%, 1M 3,79%. Lợi suất TPCP trên thị trường thứ cấp tăng ở các kỳ hạn 5Y và 7Y trong khi không thay đổi ở các kỳ hạn còn lại, chốt phiên với mức: 3Y 3,15%; 5Y 3,64%; 7Y 3,75%; 10Y 4,14%; 15Y 4,25%.
Nghiệp vụ thị trường mở: Trên kênh cầm cố, phiên 19/01, NHNN chào thầu 1.000 tỷ đồng ở mỗi kỳ hạn 7 ngày và 56 ngày, lãi suất đều ở mức 4,5%. Tất cả khối lượng này đều trúng thầu. Có 19.719,38 tỷ đồng đáo hạn. NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN. Như vậy, hôm qua, NHNN hút ròng 17.719,38 tỷ đồng từ thị trường. Có 297.329,11 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.
Thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán phiên đầu tuần tích cực. Kết thúc phiên, VN-Index tăng mạnh 17,46 điểm (+0,93%) đạt mức 1.896,59 điểm; HNX-Index thêm 2,67 điểm (+1,06%) lên 254,95 điểm; UPCoM-Index giảm 0,70 điểm (-0,55%) về 126,36 điểm. Thanh khoản thị trường ở mức thấp với giá trị giao dịch đạt gần 29.200 tỷ đồng. Khối ngoại bán ròng hơn 510 tỷ đồng trên cả 3 sàn.
Báo cáo mới nhất của hãng xếp hạng tín nhiệm VISRating cho thấy, năm 2025, tổng giá trị TPDN phát hành mới đạt 624 nghìn tỷ đồng, tăng 32% so với cùng kỳ, tập trung rõ vào hai nhóm có nhu cầu vốn lớn nhất là ngân hàng và bất động sản dân cư. Tính đến cuối năm 2025, dư nợ TPDN đạt trên 1,4 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 11% GDP. Theo VISRating, tỷ lệ trái phiếu chậm trả trong năm 2025 giảm xuống chỉ còn 1,3%, từ mức đỉnh 12,2% của năm 2023.
Tin quốc tế:
Theo dữ liệu vừa công bố của Tổng cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc, GDP quý IV nước này tăng 4,5% q/y, tuy thấp hơn mức tăng 4,8% của quý III nhưng bằng với dự báo của thị trường. Năm 2025, GDP Trung Quốc đạt mức tăng trưởng 5% y/y nhờ sự bùng nổ trong xuất khẩu. Trung Quốc ghi nhận thặng dư thương mại kỷ lục lên tới 1,19 nghìn tỷ USD trong năm qua, xuất khẩu tăng 5,5% so với năm trước. Mức tăng trưởng này đạt đúng mục tiêu mà Bắc Kinh đề ra, ngang bằng với con số của năm 2024 khi điều chỉnh theo lạm phát. Bên cạnh đó, sản lượng công nghiệp nước này tăng 5,2% y/y trong tháng 12, vượt trội so với mức tăng 4,8% của tháng 11, đồng thời cũng cao hơn dự báo ở mức tăng 5,1%. Tỷ lệ thất nghiệp tháng 12 tích cực khi giữ ở mức 5,1% như tháng 11, trái với dự báo tăng lên mức 5,2%. Tuy nhiên, doanh số bán lẻ Trung Quốc chỉ tăng 0,9% y/y trong tháng 12, thấp hơn mức tăng 1,3% của tháng trước đó, không đạt kỳ vọng tăng 1,1%.
Theo Văn phòng Thống kê Eurozone, chỉ số giá tiêu dùng CPI lõi chính thức tại khu vực này, không bao gồm giá thực phẩm, năng lượng và thuốc lá, tăng với mức thấp nhất trong bốn tháng 2,3% y/y vào tháng 12/2025, khớp với số liệu sơ bộ, giảm nhẹ so với mức 2,4% của tháng 11. So với tháng trước, CPI lõi tăng 0,3% trong tháng 12, bằng mức ước tính trước đó, sau khi giảm 0,5% trong tháng 11. CPI toàn phần chính thức EZ tháng 12 tăng 1,9% y/y, giảm nhẹ so với mức 2,0% theo số liệu sơ bộ cũng là dự báo của thị trường, thấp hơn mức tăng 2,1% của tháng trước đó.
Bản tin Kinh tế - Tài chính ngày 20/01/2026