Bản tin Kinh tế - Tài chính ngày 09/01/2026

07:42 09/01/2026

Tin trong nước:

Thị trường ngoại tệ: Phiên 08/01, NHNN niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 25.125 VND/USD, tăng 03 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá mua giao ngay được niêm yết ở mức 23.919 VND/USD, cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn. Tỷ giá bán giao ngay được niêm yết ở mức 26.331 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần. Trên thị trường LNH, tỷ giá chốt phiên với mức 26.270 VND/USD, giảm nhẹ 02 đồng so với phiên 07/01. Tỷ giá trên thị trường tự do giữ nguyên ở cả hai chiều mua vào và bán ra, giao dịch tại 26.840 VND/USD và 26.880 VND/USD.

Thị trường tiền tệ LNH: Ngày 08/01, lãi suất chào bình quân LNH VND tiếp tục giảm mạnh 0,20 – 1,10 đpt ở tất cả các kỳ hạn từ 1M trở xuống so với phiên trước đó, giao dịch tại: ON 3,60%; 1W 4,30%; 2W 5,10% và 1M 6,30%. Lãi suất chào bình quân LNH USD giảm 0,02 – 0,04 đpt ở hầu hết các kỳ hạn ngoại trừ đi ngang ở kỳ hạn 1W; giao dịch tại: ON 3,65%; 1W 3,74%; 2W 3,75%, 1M 3,79%. Lợi suất TPCP trên thị trường thứ cấp tăng mạnh ở tất cả các kỳ hạn, chốt phiên với mức: 3Y 3,11%; 5Y 3,47%; 7Y 3,60%; 10Y 4,17%; 15Y 4,23%.

Nghiệp vụ thị trường mở: Trên kênh cầm cố, phiên 08/01, NHNN chào thầu 1.000 tỷ đồng ở mỗi kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày và 91 ngày, lãi suất đều ở mức 4,5%. Tổng cộng có 2.048,21 tỷ đồng trúng thầu, trong đó không có khối lượng trúng thầu ở kỳ hạn 7 ngày, có 890,90 tỷ đồng ở kỳ hạn 14 ngày, 764,17 tỷ đồng ở kỳ hạn 28 ngày và 393,14 tỷ đồng ở kỳ hạn 91 ngày. Có 8.922,59 tỷ đồng đáo hạn. NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN. Như vậy, hôm qua, NHNN hút ròng 6.874,38 tỷ đồng từ thị trường. Có 349.952,30 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.

Thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán phiên hôm qua phân hóa. Kết thúc phiên, VN-Index giảm nhẹ 6,02 điểm (-0,32%) về mức 1.855,56 điểm; HNX-Index mất 0,30 điểm (-0,12%) còn 249,10 điểm; UPCoM-Index tăng 0,55 điểm (+0,45%) đạt 121,59 điểm. Thanh khoản thị trường tiếp tục tăng với giá trị giao dịch đạt trên 38.900 tỷ đồng. Khối ngoại mua ròng gần 305 tỷ đồng trên cả 3 sàn.

Giá xăng, dầu (trừ dầu mazut) giảm 140-350 đồng/lít từ ngày 08/01, sau điều chỉnh của liên Bộ Công Thương - Tài chính. Cụ thể, giá xăng RON 95-III giảm 350 đồng, xuống 18.560 đồng/lít; xăng E5 RON 92 hạ 200 đồng/lít, có giá mới 18.230 đồng/lít; giá dầu diesel 0.05S giảm 194 đồng/lít, giá bán không cao hơn 17.061 đồng/lít; giá dầu hỏa không cao hơn 17.559 đồng/lít, giảm 135 đồng/lít. Ở chiều ngược lại, giá dầu mazut 180CST 3.5S không cao hơn 13.403 đồng/kg, tăng 58 đồng/kg.

Theo Bộ Tài chính, tổng khối lượng TPCP dự kiến phát hành trong năm 2026 là 500.000 tỷ VND. Trong đó, KBNN dự kiến khối lượng phát hành TPCP trong quý I/2026 là 110.000 tỷ đồng. Chi tiết các kỳ hạn cụ thể như sau: Kỳ hạn 5 năm: 17.000 tỷ đồng; 7 năm: 2.000 tỷ đồng; 10 năm: 65.000 tỷ đồng; 15 năm: 17.000 tỷ đồng; 20 năm: 3.000 tỷ đồng; 30 năm: 6.000 tỷ đồng.

Tin quốc tế:

Cán cân thương mại hàng hóa Mỹ thâm hụt 59,1 tỷ USD trong tháng 11, thu hẹp so với mức thâm hụt 78,3 tỷ của tháng trước đó. Cán cân thương mại tổng thể (cả hàng hóa và dịch vụ) của nước này thâm hụt 29,4 tỷ USD trong tháng 11, cũng giảm so với thâm hụt 48,1 tỷ ở tháng 10, đồng thời khiêm tốn hơn nhiều so với mức thâm hụt 58,1 tỷ theo dự báo. Tiếp theo, trên thị trường lao động, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại Mỹ tuần kết thúc ngày 03/01 ở mức 208 nghìn đơn, tăng nhẹ từ 200 nghìn đơn của tuần trước đó, song vẫn thấp hơn mức 213 nghìn theo dự báo. Số đơn bình quân 4 tuần gần nhất ở mức 211,75 nghìn đơn, giảm 7,25 nghìn so với bình quân 4 tuần liền trước.

Hôm nay, thị trường chờ đợi báo cáo chi tiết thị trường lao động tháng 12 tại Mỹ, được công bố vào 20:30 theo giờ Việt Nam. Những số liệu này có thể ảnh hưởng tới kỳ vọng của thị trường về khả năng cắt giảm LSCS của Cục Dữ trữ Liên bang Mỹ Fed trong cuộc họp ngày 28/01. Theo dự báo hiện tại của CME, có 88% khả năng Fed sẽ không điều chỉnh LSCS ở khoảng 3,50% - 3,75% và chỉ có 12% khả năng cắt giảm 25 đcb xuống còn 3,25% - 3,50%. Kịch bản chiếm ưu thế cho thấy Fed có thể cắt giảm LSCS 2 lần trong năm 2026, lần lượt vào tháng 4 và tháng 7, đưa LS cuối năm về khoảng 3,0% - 3,25%.

Giá trị đơn đặt hàng nhà máy tại Đức tăng khá mạnh 5,6% m/m trong tháng 11, nối tiếp đà tăng 1,6% của tháng trước đó, trái với dự báo giảm nhẹ 0,9%. So với cùng kỳ năm 2024, giá trị đơn đặt hàng tăng khoảng 10,5% y/y. Tại Eurozone, tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực này trong tháng 11 được công bố ở mức 6,3%, trái với dự báo đi ngang ở mức 6,4% của tháng 10.

Bản tin Kinh tế - Tài chính ngày 09/01/2026

Đọc thêm