Tổng quan:
Hầu hết các NHTW lớn “án binh bất động” sau các cuộc họp chính sách thường kỳ vừa diễn ra tuần qua, trong bối cảnh căng thẳng Trung Đông leo thang, gây ra nhiều sự bất định về kinh tế và lạm phát.
Trong tuần vừa qua, các NHTW lớn như Fed (Mỹ), ECB (Châu Âu), BOE (Anh), (RBA) Úc và BOJ (Nhật Bản) đều có cuộc họp quan trọng về triển vọng kinh tế và CSTT. Trong đó, đáng chú ý nhất là Fed, cơ quan quyết định CSTT nước Mỹ và xu hướng của đồng USD, nên có tầm ảnh hưởng toàn cầu.
Trong cuộc họp ngày 17-18/03, Fed nhận định kinh tế Mỹ vẫn tăng trưởng vững chắc, song thị trường lao động tạo ra ít việc làm mới và tỷ lệ lạm phát đang ở mức cao. Cơ quan này dự báo GDP nước Mỹ năm 2026 và 2027 có thể lần lượt tăng 2,4% và 2,3% (+0,1 đpt và +0,3 đpt so với dự báo tại cuộc họp tháng 12/2025); tỷ lệ thất nghiệp được dự báo lần lượt ở mức 4,4% và 4,3% (không đổi và +0,1 đpt); về lạm phát, chỉ số PCE toàn phần được dự báo lần lượt tăng 2,7% và 2,2% (+0,3 đpt và +0,1 đpt); PCE lõi cũng tăng 2,7% và 2,2% (+0,2 đpt và +0,1 đpt) (trong năm 2025, PCE lõi y/y tại Mỹ dao động chủ yếu quanh 2,7% và tăng dần lên mức 3,1% những tháng gần đây). Trong bối cảnh hai mục tiêu là toàn dụng lao động và giữ lạm phát ổn định quanh mức 2,0% đang xuất hiện sự xung đột, Fed quyết định giữ LSCS không đổi ở mức 3,50% - 3,75%. Dự báo của Fed cũng cho thấy có một lần cắt giảm LSCS trong năm 2026, không thay đổi so với kết quả ở cuộc họp 12/2025. Sau cuộc họp, Chủ tịch Fed Jerome Powell trả lời báo chí cứng rắn rằng Fed sẽ không hạ LS chừng nào chưa thấy quá trình hạ lạm phát có tiến triển. Bên cạnh đó, ông Powell cũng nhấn mạnh tính bất định đang “cao bất thường”, và lập mô hình chính sách để phù hợp với bối cảnh hiện tại là “gần như không thể”.
Đối với một số NHTW khác là ECB, BOE và BOJ, 3 cơ quan này đều cũng không điều chỉnh LSCS trong cuộc họp tháng 3, lần lượt giữ nguyên ở 2,15%; 3,75% và 0,75% (BOE và BOJ đều sử dụng LS tiền gửi qua đêm kỳ hạn ON làm LSCS; ECB sử dụng bộ 3 LSCS, trong đó đại diện là LS cho vay tái cấp vốn kỳ hạn 1W). Cả 3 nền kinh tế trên đều có tốc độ tăng trưởng kinh tế không thật tích cực, nhưng bối cảnh lạm phát khác nhau dẫn đến sự phân hóa về xu hướng và mức LSCS khác nhau (ECB và BOE đang trong quá trình cắt giảm, còn BOJ trong quá trình nâng LSCS). Cụ thể, tại Eurozone, CPI toàn phần đã về quanh ngưỡng 2,0% kể từ cuối năm 2024 và ECB cũng là cơ quan cắt giảm LSCS nhiều nhất trong 5 NHTW đang được đề cập. Đối với BOE, quá trình hạ lạm phát gập gềnh trở lại kể từ cuối năm 2024, CPI toàn phần nước Anh tăng trở lại trong năm 2025, có lúc lên tới 3,8% và hiện tại ở mức 3,0%. Đối với BOJ, CPI y/y chỉ vừa trở lại mức dưới 2,0% sau một quãng thời gian dài 4 năm dao động quanh ngưỡng 3%.
Cuối cùng, về RBA (Australia), cơ quan này nhận định lạm phát đã giảm đáng kể so với đỉnh năm 2022, nhưng có xu hướng tăng trở lại rõ rệt từ nửa cuối 2025, chủ yếu do kinh tế Úc diễn biến tích cực và một phần do rủi ro địa chính trị tác động. CPI y/y tại Úc hiện là 3,8%. Theo đó, trong nhóm các NHTW lớn kể trên, RBA là NHTW duy nhất tăng LSCS trong tháng 3, từ mức 3,85% lên 4,10%.
Có thể thấy kể từ khi chiến sự tại Iran nổ ra đã kéo theo nhiều sự bất định, ảnh hưởng tới triển vọng kinh tế và lạm phát toàn cầu, nguy cơ đình lạm dâng cao (giá dầu tăng vọt, có lúc đạt đỉnh gần 120 USD/thùng; giá các loại khí đốt tăng phi mã). Các NHTW lớn trên thế giới đều cho thấy tình trạng khó khăn trong dự báo và buộc phải cẩn trọng trong hành động dù ở bất kỳ vị thế nào.
Đối với Việt Nam, kinh tế và tài chính trong nước cũng sẽ chịu ảnh hưởng lớn từ các yếu tố quốc tế tiêu cực. NHNN, có lẽ cũng không ngoại lệ, đang gặp thách thức lớn trong quá trình theo đuổi đa mục tiêu. Có thể dự đoán, trong ngắn hạn, Nhà điều hành sẽ cố gắng điều tiết cả tỷ giá và lãi suất một cách thận trọng và linh hoạt nhất, chờ đợi giai đoạn sóng gió đi qua, trước khi quyết định lựa chọn mục tiêu ưu tiên một cách rõ ràng, rành mạch hơn.
Tóm lược thị trường trong nước từ 16/03 - 20/03/2026
Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 16/03 - 20/03, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh theo xu hướng tăng. Chốt ngày 20/03, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.085 VND/USD, tăng 20 đồng so với phiên cuối tuần trước. NHNN niêm yết tỷ giá mua giao ngay ở mức 23.881 VND/USD, cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn; tỷ giá bán giao ngay được niêm yết mức ở mức 26.289 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần.
Tỷ giá LNH trong tuần từ 16/03 - 20/03 tiếp tục tăng – giảm đan xen qua các phiên. Kết thúc phiên 20/03, tỷ giá LNH đóng cửa tại 26.306 VND/USD, tăng 11 đồng so với phiên cuối tuần trước.
Tỷ giá trên thị trường tự do biến động tăng – giảm đan xen giữa các phiên. Chốt phiên 20/03, tỷ giá tự do giảm 150 đồng ở chiều mua vào và 90 đồng ở chiều bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 27.000 VND/USD và 27.100 VND/USD.
Thị trường tiền tệ LNH: Tuần từ 16/03 - 20/03, lãi suất VND LNH tăng ở tất cả các kỳ hạn. Kết thúc ngày 20/03, lãi suất VND LNH giao dịch ở mức: ON 4,20% (+0,20 đpt); 1W 5,70% (+0,90 đpt); 2W 7,10% (+1,60 đpt); 1M 7,40% (+0,10 đpt).
Lãi suất USD LNH biến động tăng – giảm nhẹ qua các phiên, chốt phiên cuối tuần giao dịch ở mức không thay đổi so với phiên cuối tuần trước đó ở tất cả các kỳ hạn, cụ thể: ON 3,60%; 1W 3,69%; 2W 3,73% và 1M 3,75%.
Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần qua từ 16/03 - 20/03, ở kênh cầm cố, NHNN chào thầu 15.000 tỷ đồng với các kỳ hạn 7 ngày, 28 ngày và 56 ngày, lãi suất đều duy trì ở mức 4,5%. Có 14.978,76 tỷ đồng trúng thầu. Có 99.314,71 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.
NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN trong tuần từ 16/03 - 20/03.
Như vậy, tuần qua, NHNN hút ròng 84.335,95 tỷ đồng từ thị trường qua kênh thị trường mở. Có 243.046,94 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.
Thị trường trái phiếu: Phiên 18/03, KBNN đấu thầu thành công 9.220 tỷ đồng/13.500 tỷ đồng TPCP gọi thầu, tương đương tỷ lệ trúng thầu đạt 68%. Trong đó, kỳ hạn 5Y huy động được 60 tỷ đồng/1.000 tỷ đồng gọi thầu, kỳ hạn 10Y huy động được 9.060 tỷ đồng/11.000 tỷ đồng gọi thầu và kỳ hạn 15Y huy động được 100 tỷ đồng/1.000 tỷ đồng gọi thầu. Kỳ hạn 20Y gọi thầu 500 tỷ đồng, tuy nhiên, không có khối lượng trúng thầu. Lãi suất trúng thầu ở kỳ hạn 5Y là 3,50% (+0,20 đpt so với phiên đấu thầu trước), 10Y là 4,11% (không đổi) và 15Y là 4,20% (+0,08 đpt).
Ngày 25/03, KBNN dự kiến chào thầu 13.500 tỷ đồng TPCP, trong đó kỳ hạn 5Y chào thầu 1.000 tỷ đồng, kỳ hạn 10Y chào thầu 11.000 tỷ đồng, kỳ hạn 15Y chào thầu 1.000 tỷ đồng và kỳ hạn 30Y chào thầu 500 tỷ đồng.
Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp trong tuần đạt trung bình 17.047 tỷ đồng/phiên, tăng so với mức 14.753 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP trong tuần tăng khá mạnh ở các kỳ hạn dưới 5Y trong khi ít biến động ở các kỳ hạn còn lại. Chốt phiên 20/03, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1Y 3,19% (+0,05 đpt so với phiên cuối tuần trước đó); 2Y 3,28% (+0,04 đpt); 3Y 3,37% (+0,04 đpt); 5Y 4,04% (+0,01 đpt); 7Y 4,08% (+0,003 đpt); 10Y 4,20% (+0,01 đpt); 15Y 4,31% (không đổi); 30Y 4,44% (không đổi).
Thị trường chứng khoán: Tuần từ 16/03 - 20/03, thị trường chứng khoán diễn biến tiêu cực, các chỉ số giảm mạnh qua hầu hết các phiên, đặc biệt phiên cuối tuần. Kết thúc phiên 20/03, VN-Index đứng ở mức 1.647,81 điểm, giảm mạnh 48,43 điểm (-2,86%) so với phiên cuối tuần trước đó; HNX-Index mất 2,38 điểm (-0,97%) về mức 243,46 điểm; UPCom-Index lùi 1,01 điểm (-0,81%) còn 123,74 điểm.
Thanh khoản thị trường trung bình đạt khoảng gần 22.900 tỷ đồng/phiên, giảm mạnh từ mức 34.100 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Khối ngoại bán ròng mạnh hơn 4.700 tỷ đồng trên cả 3 sàn.
Tin quốc tế
Nước Mỹ đón một số chỉ báo kinh tế đáng chú ý. Đầu tiên, Văn phòng Thống kê Mỹ cho biết chỉ số giá sản xuất PPI toàn phần và PPI lõi của nước này lần lượt tăng 0,7% và 0,5% m/m trong tháng 2, nối tiếp đà tăng 0,5% và 0,8% của tháng trước đó, đồng thời cao hơn dự báo cùng tăng 0,3%. So với cùng kỳ năm 2025, PPI và PPI lõi lần lượt tăng 3,4% và 3,5% trong tháng vừa qua, cùng mở rộng so với mức tăng 2,9% và 3,4% của tháng 1. Nguyên nhân chủ yếu đến từ giá thực phẩm và giá năng lượng tháng 2 lần lượt tăng 2,4% và 2,3% y/y, đảo ngược mức giảm 1,4% và 2,3% ghi nhận ở tháng đầu năm. Tại thị trường lao động, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại Mỹ tuần kết thúc ngày 14/03 ở mức 205 nghìn đơn, giảm nhẹ từ 213 nghìn đơn của tuần trước đó và thấp hơn mức 215 nghìn đơn theo dự báo. Số đơn bình quân 4 tuần gần nhất ở mức 210,75 nghìn đơn, giảm nhẹ 0,75 nghìn so với bình quân 4 tuần trước đó. Tiếp theo, về thị trường bất động sản, doanh số bán nhà mới tại Mỹ đạt 587 nghìn căn trong tháng 2, giảm so với 712 nghìn căn của tháng 1 và cũng thấp hơn khá nhiều so với mức 722 nghìn căn theo dự báo. Bên cạnh đó, doanh số nhà chờ bán tại nước này tăng 1,8% m/m trong tháng 2 sau khi giảm 1,0% ở tháng 1, trái với dự báo tiếp tục giảm 0,6%. So với cùng kỳ năm 2025, doanh số nhà chờ bán ở tháng vừa qua giảm khoảng 0,8% y/y. Cuối cùng, sản lượng công nghiệp tại Mỹ tăng 0,2% m/m trong tháng 2, nối tiếp đà tăng 0,7% của tháng 1 và gần khớp với dự báo tăng 0,1%. So với cùng kỳ, sản lượng công nghiệp tăng khoảng 1,3% y/y.
Nước Anh cũng ghi nhận nhiều thông tin kinh tế quan trọng. Về thị trường lao động, nước Anh tạo ra 24,7 nghìn việc làm mới trong tháng 1, cao hơn mức 4,7 nghìn của tháng 12 và gần khớp với dự báo ở mức 25,8 nghìn. Tỷ lệ thất nghiệp tại Anh trong tháng đầu năm ở mức 5,2%, không thay đổi so với tháng trước đó và trái với dự báo tăng nhẹ lên 5,3%. Thu nhập bình quân của người lao động Anh tháng 2 tăng khoảng 3,9% 3m/y trong 3 tháng 11-12-01, bằng với mức tăng 4,2% của 3 tháng 10-11-12 và khớp với dự báo của thị trường. Đà tăng thu nhập của người lao động Anh vẫn đang cho thấy sự thu hẹp dần kể từ đầu năm 2025 cho tới nay, mức tăng 3,9% nói trên là mức thấp nhất kể từ tháng 10/2024. Tiếp theo, tổ chức Rightmove khảo sát cho biết giá nhà tại Anh tăng khoảng 0,8% m/m trong tháng 3 lên mức 371 nghìn GBP/căn, sau khi đi ngang (0,0% m/m) ở tháng 2. Trong tuần này, nước Anh chờ đợi thông tin về chỉ số giá tiêu dùng CPI, được công bố vào chiều ngày 25/03 theo giờ Việt Nam.
Tổng hợp Kinh tế - Tài chính tuần 16/03 - 20/03/2026