Bản tin Kinh tế - Tài chính ngày 24/04/2026

08:24 24/04/2026

Tin trong nước:

Thị trường ngoại tệ: Phiên 23/04, NHNN niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 25.105 VND/USD, tăng 05 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá mua giao ngay được niêm yết ở mức 23.900 VND/USD, cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn. Tỷ giá bán giao ngay được niêm yết ở mức 26.310 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần. Trên thị trường LNH, tỷ giá chốt phiên với mức 26.328 VND/USD, tăng 06 đồng với phiên 22/04. Tỷ giá trên thị trường tự do giảm 50 đồng ở chiều mua vào và 70 đồng ở chiều bán ra, giao dịch tại 26.527 VND/USD và 26.627 VND/USD.

Thị trường tiền tệ LNH: Ngày 23/04, lãi suất bình quân LNH VND giảm 0,45 – 1,30 đpt ở các kỳ hạn ON và 2W trong khi giữ nguyên ở kỳ hạn 1W và tăng 0,02 đpt ở kỳ hạn 1M so với phiên trước đó, giao dịch tại: ON 4,50%; 1W 6,30%; 2W 6,55% và 1M 7,35%. Lãi suất bình quân LNH USD không thay đổi ở hầu hết các kỳ hạn ngoại trừ tăng 0,01 đpt ở kỳ hạn 1M; giao dịch tại: ON 3,65%; 1W 3,70%; 2W 3,75%, 1M 3,80%. Lợi suất TPCP trên thị trường thứ cấp biến động nhẹ trái chiều, chốt phiên với mức: 3Y 3,44%; 5Y 4,06%; 7Y 4,13%; 10Y 4,23%; 15Y 4,33%.

Nghiệp vụ thị trường mở: Trên kênh cầm cố, NHNN chào thầu 3.000 tỷ đồng ở kỳ hạn 14 ngày, 7.000 tỷ đồng ở kỳ hạn 35 ngày, 10.000 tỷ đồng ở kỳ hạn 56 ngày, lãi suất đều ở mức 4,5%. Có 2.180,37 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 14 ngày, 5.984,63 tỷ đồng ở kỳ hạn 35 ngày và 10.000 tỷ đồng ở kỳ hạn 56 ngày. Có 1.080,45 tỷ đồng đáo hạn. NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN. Như vậy, NHNN bơm ròng 17.084,55 tỷ đồng ra thị trường. Có 300.789,29 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.

Thị trường chứng khoán: Trên thị trường chứng khoán phiên hôm qua, VN-Index duy trì sắc xanh nhờ nhóm cổ phiếu ngân hàng và tài chính. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index tăng 13,06 điểm (+0,70%) lên mức 1.870,36 điểm; HNX-Index giảm 2,13 điểm (-0,83%) xuống 253,23 điểm; UPCoM-Index mất 0,55 điểm (-0,43%) về 128,31 điểm. Thanh khoản thị trường tăng mạnh với giá trị giao dịch đạt gần 28.600 tỷ đồng. Khối ngoại bán ròng gần 1.660 tỷ đồng trên cả 3 sàn.

Theo Bộ Tài chính, trong quý I, KBNN huy động được 80.101 tỷ đồng TPCP, tăng 132% so với quý IV/2025 nhưng giảm 27% so với cùng kỳ năm 2025. Cơ cấu phát hành tiếp tục tập trung chủ yếu ở các kỳ hạn trung và dài hạn, trong đó khối lượng trúng thầu tại kỳ hạn 5 năm đạt 640 tỷ đồng, kỳ hạn 10 năm đạt 78.511 tỷ đồng và kỳ hạn 15 năm đạt 950 tỷ đồng. KBNN hoàn thành 66,8% kế hoạch huy động quý I và 12,1% kế hoạch năm 2026.

Ngày 23/04, giá xăng dầu trong nước tiếp tục được Liên Bộ Công thương – Tài chính điều chỉnh giảm. Cụ thể, xăng E5RON92 không cao hơn 21.834 đồng/lít (giảm 100 đồng/lít so với giá bán tối đa hiện hành), thấp hơn xăng RON95-III 1.046 đồng/lít; xăng RON95-III 22.880 đồng/lít (giảm 162 đồng/lít); dầu diesel 0.05S 26.697 đồng/lít (giảm 1.159 đồng/lít); dầu mazut 180CST 3.5S 18.811 đồng/kg (giảm 820 đồng/kg).

Tin quốc tế:

S&P Global khảo sát cho biết chỉ số PMI lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực dịch vụ tại Mỹ lần lượt đạt 54,0 và 51,3 điểm trong tháng 4, cùng tăng lên so với 52,3 và 49,8 điểm của tháng trước, đồng thời cùng cao hơn so với mức 52,5 và 50,5 theo dự báo. Tiếp theo, về thị trường lao động, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại Mỹ tuần kết thúc ngày 18/04 ở mức 214 nghìn đơn, tăng lên từ 208 nghìn đơn của tuần trước đó và cao hơn một chút so với mức 211 nghìn đơn theo dự báo. Số đơn bình quân 4 tuần gần nhất là 210,75 nghìn tăng nhẹ 0,75 nghìn so với 4 tuần liền trước.

Theo S&P Global, chỉ số PMI lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực dịch vụ tại Anh lần lượt là 53,6 và 52,0 điểm trong tháng 4, cùng tăng lên từ 51,0 và 50,5 điểm của tháng 3, trái với dự báo giảm xuống còn 50,3 và 50,0 điểm.

S&P Global công bố PMI lĩnh vực sản xuất tại khu vực Eurozone là 52,2 điểm trong tháng 4, tăng lên từ 51,6 điểm của tháng 3, trái với dự báo giảm còn 50,9 điểm. Mặc dù vậy, PMI lĩnh vực dịch vụ giảm khá mạnh xuống 47,4 điểm trong tháng này từ 50,2 điểm của tháng trước, sâu hơn so với mức 49,8 điểm theo dự báo.

Bản tin Kinh tế - Tài chính ngày 24/04/2026

Đọc thêm